Toàn cảnh Chiến tranh Việt Nam – kỳ 2


Kỳ 2: Con đường gian nan đến ngày toàn thắng

———————————————————————————————

Mục lục:

Tóm lược quan hệ Việt – Mỹ trước khi cuộc chiến giữa hai nước xảy ra

Giai đoạn 1954-1961

1. Mỹ từng bước thay thế Pháp

2. Tố Cộng – Diệt Cộng

3. Chương trình bình định nông thôn

3A. Khu trù mật – Ấp chiến lược

4. Đường Trường Sơn – Đường mòn Hồ Chí Minh

5. Hệ thống địa đạo

6. Khởi nghĩa Trà Bồng

7. Phong trào Đồng khởi

8. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập

Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1961-1965)

1. “Thay ngựa giữa dòng”

Chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1965-1968)

1. Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân

1A. Mặt trận Sài Gòn

1B. Mặt trận Huế

1C. Tấn công và nổi dậy đợt 2

1D. Tấn công và nổi dậy đợt 3

Các chiến dịch chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam (1965-1972)

1. Chiến dịch Rolling Thunder (Sấm Rền)

2. Chiến dịch Linebacker

3. Chiến dịch Linebacker II – Điện Biên Phủ trên không

Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1968-1973-1975)

Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập

1. Cuộc nổi dậy xuân Kỷ Dậu 1969

2. Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào

3. Chiến dịch Xuân – Hè

Mỹ rút đại quân và phá hoại hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh, tổ chức bầu cử thành lập chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam

Những cố gắng cuối cùng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1973-1975)

———————————————————————————————

Trong lịch sử hàng ngàn năm chống ngoại xâm, trước khi có cuộc đụng độ lịch sử với Hoa Kỳ, dân tộc Việt Nam đã từng đứng trước 3 kẻ khổng lồ có sức mạnh vô địch, áp đảo và vô cùng tàn bạo, tưởng chừng không thể chống đỡ nổi: 10 năm chống quân đội Tần Thủy Hoàng (218 TCN-208 TCN), ba lần chống quân Mông Cổ (1257-1258, 1284-1285, 1287-1288), 96 năm chống thực dân Pháp (1858-1954).


Quân Tần cực kỳ tinh nhuệ, được xem là đội quân vô địch trong thời điểm đó. Họ gồm thâu 6 nước, thống nhất Trung Hoa, sau đó đem quân Nam tiến, lần lượt chinh phạt thành công các tộc Bách Việt, sau đó tiến đến lãnh thổ Âu Việt. Người Âu Việt dưới sự lãnh đạo của Thục Phán và Dịch Hu Tống, lui vào rừng núi tiến hành chiến tranh du kích và chống trả kiên cường. Sau 10 năm chinh chiến, tình trạng quân Tần lúc này theo sách cổ Sử Ký của Tư Mã Thiên mô tả là: “Đóng binh ở đất vô dụng. Tiến không được, thoái không xong. Đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta phải thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau.” Quân Tần bị tổn thất nặng nề, sách cổ Hoài Nam Tử của Lưu An mô tả: “Thây phơi máu chảy hàng chục vạn người”. Tại Trung Nguyên, Tần Thủy Hoàng qua đời, Tần Nhị Thế kế vị và ra lệnh bãi binh vào năm 208 TCN.


Thành Cát Tư Hãn từng gọi đội binh mã thiện chiến của mình là: “Vó ngựa Mông Cổ lướt tới đâu, cỏ ở đó không mọc nổi.” Đây là đội quân xâm lược bành trướng thế giới tàn bạo nhất trong thế kỷ 13. Quân đội này đã diệt các nước lớn như Hạ, Kim, Tống, thôn tính Trung Hoa, khuất phục Triều Tiên. Kéo quân gieo rắc ác mộng khắp thế giới, kể cả Trung Đông, châu Âu và Nga, khiến cho những nước phương Tây phải kinh hoàng. Đội quân kỵ xạ và kỹ thuật cưỡi ngựa bắn tên của kỵ binh Mông Cổ là vô địch và hầu như bất khả chiến bại. Tuy nhiên, khi hơn 70 vạn quân Mông Cổ (Lần thứ nhất: 3 vạn quân. Lần thứ hai: 20 vạn quân. Lần thứ ba: 50 vạn quân) kéo vào Đại Việt dưới sự chỉ huy của thái tử Thoát Hoan (Toghan) và các danh tướng từng gieo rắc sợ hãi cho 1/3 thế giới như Ô Mã Nhi (Omar) và Toa Đô (Suodu)…. thì họ đã bị thua to dưới tay thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo và quân dân Đại Việt.


Năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha chính thức xâm lược Đại Nam. Với khoảng cách quá xa về trình độ dân trí, phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự, quân Pháp hầu như dễ dàng đánh đâu thắng đó. Năm 1886, sau khi hoàn toàn đánh bại quân chủ chiến triều Nguyễn, quân nhà Thanh và quân Cờ Đen, Pháp chính thức thiết lập ách thống trị thực dân kiểu cổ điển trên toàn cõi Việt Nam. Bắc Kỳ và Trung Kỳ được xem là xứ “bảo hộ” với triều đình Huế bù nhìn. Nam Kỳ bị xem là xứ thuộc địa chính thức thuộc chủ quyền của Pháp. Năm 1945, quân đội Nhật đảo chính Pháp. Năm 1946, Pháp quay lại tái chiếm Đông Dương. Cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra và kết thúc sau chiến dịch Điện Biên Phủ và sự ký kết của Hiệp định Genève 1954, gần 20 vạn quân Pháp và gần 30 vạn quân ngụy đã bị thất bại trước chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp, và quân dân Việt Nam, Pháp chính thức công nhận sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Đông Dương. Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân suốt 96 năm của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một thuộc địa phương Đông thắng cuộc trước một đế quốc phương Tây. Sau sự kiện này, các thuộc địa khác trên thế giới, nhất là ở Á – Phi cũng noi gương đồng loạt nổi dậy.

oOo

Thế kỷ 20 nổi lên một thế lực hùng mạnh bậc nhất: Hoa Kỳ, với một thế lực chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc bành trướng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ 19, bao gồm các hành động xâm lược, diệt chủng, thiết lập chế độ thuộc địa trên các đất đai mới, đến khi thuộc địa đó hội đủ điều kiện thì nhập vào liên bang Hoa Kỳ (như Hawaii, Alaska).

Đến cuối thế kỷ 19, biên giới Hoa Kỳ đã kéo dài đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ và Thế chiến I đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Mỹ. Thế chiến II đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên phát triển vũ khí hạt nhân, và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Từ thời lập quốc đến năm 1924, quân đội Mỹ đã trải qua hơn 100 cuộc chiến tranh xâm lược, bình định, và hàng vạn trận chiến lớn nhỏ trong quá trình chinh phục, xâm chiếm, diệt tộc, cướp đất đai của các lực lượng bản địa. Các chủng tộc, dân tộc bản xứ trước đó có hàng chục triệu người, sau hơn 100 cuộc chiến chỉ còn lại chừng mấy trăm ngàn người.

Từ năm 1776 đến năm 1973, quân đội Mỹ đã bình định và dẹp tan khoảng 30 cuộc khởi nghĩa chống chế độ nô lệ, sưu cao thuế nặng và bất công giai cấp.

Từ năm 1835 đến năm 1932, quân đội Mỹ đã tham chiến trong gần 10 cuộc chiến tranh xâm lấn, cướp đất, xung đột quân sự biên giới.

Từ năm 1798 đến 1953, quân đội Mỹ đã chiến đấu trong hơn 10 cuộc chiến tranh ở hải ngoại, đánh đến châu Âu, châu Mỹ Latinh, châu Phi, châu Á và các quần đảo ngoài biển. Bao gồm hai cuộc Chiến tranh Thế giới.

Trong số khoảng 150 cuộc chiến lớn nhỏ đó, quân đội Hoa Kỳ chưa 1 lần thua cuộc.

Cuộc đọ sức lịch sử giữa một trong những dân tộc đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược nhất vớimột quân đội đánh bại nhiều đối thủ nhất, bắt đầu.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài tham luận “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử” trong hội thảo khoa học “Đại thắng mùa Xuân 1975 – Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương tổ chức trong hai ngày 14 và 15 tháng 4 năm 2005 đã gợi nhớ và nhấn mạnh lại thời khắc dầu sôi lửa bỏng này: “Dân tộc Việt Nam đứng trước một khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử”…. và…. “Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự.”

Tóm lược quan hệ Việt – Mỹ trước khi cuộc chiến giữa hai nước xảy ra

Năm 1787, hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh, sau này là thái tử của vua Gia Long, theo Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) sang Pháp và đã gặp tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ là Thomas Jefferson, khi ông đang là Công sứ Toàn quyền Hoa Kỳ tại nước Pháp. Cuộc gặp gỡ này được một số nhà nghiên cứu sử học xem là cuộc tiếp xúc “chính thức” giữa triều Nguyễn và liên bang Hoa Kỳ.

Công sứ Jefferson là một người đa tài, đam mê nghiên cứu về nông nghiệp đã chủ động đến gặp hoàng tử Cảnh với mong muốn tìm được giống lúa thích hợp cho vùng Carolina trên đất Mỹ. Tuy nhiên, mong muốn của Jefferson đã không thành hiện thực khi vị hoàng tử nhỏ tuổi hồi hương.

Trong chuyến hành trình đến vùng biển châu Á năm 1845, chiến thuyền Constitution (thường gọi là Old Ironsides) của Hoa Kỳ đã cập bến Đà Nẵng. Thuyền trưởng là John Percival liên lạc với các quan địa phương xin được tiếp xúc với triều Nguyễn để đặt mối giao hảo. Được tin, vua Thiệu Trị tại Huế cử viên ngoại lang Nguyễn Long đi hỏa tốc vào Đà Nẵng hiệp cùng Kinh lịch thuộc viên ở tỉnh là Nguyễn Dụng Giai đến thăm hỏi, làm việc với Percival.

Nhưng thay vì gây thêm cảm tình, Percival khi nhận được thư cầu cứu của giám mục Dominique Lefebvre đang bị giam cầm, thì lập tức chiếm đoạt lấy 3 chiến thuyền và một số người làm con tin, đòi nhà chức trách phải thả Lefebvre. Sự việc không giải quyết được, Percival sai nổ súng bắn lên bờ rồi nhổ neo ra khơi ngày 16 tháng 5, khiến tình hình thêm rắc rối.

Năm 1873, Bùi Viện được vua Tự Đức cử sang Mỹ như một “đại sứ đặc mệnh toàn quyền” để cầu viện chống Pháp. Bùi Viện sau đó đã đi qua Yokohama (Nhật) để đáp tàu sang Mỹ. Tổng thống Ulysses Grant (nhiệm kỳ 1868-1876) lúc này chưa có nhu cầu chống Pháp, thấy không có lợi lộc gì và có lẽ sợ ảnh hưởng quan hệ với Pháp, nên không muốn tiếp kiến. Bùi Viện tiếc công đi xa nên lưu lại Mỹ 1 năm kiên nhẫn chờ gặp. Đến khi Pháp và Mỹ đụng độ trong trận chiến ở Mexico thì Grant mới hỏi đến Bùi Viện. Nhưng sau đó Mỹ – Pháp xuống thang xung đột ở Mexico, Grant viện lý do Bùi Viện không mang theo quốc thư rồi từ chối giúp đỡ. Vì vậy, ông lại quay về Việt Nam trở lại kinh thành Huế.

Có được thư ủy nhiệm của vua Tự Đức, Bùi Viện lại xuất dương một lần nữa. Sau những chuyến hải hành khổ sở với các tàu thủy lạc hậu thời đó, năm 1875, Bùi Viện lại có mặt tại Hoa Kỳ. Có trong tay quốc thư nhưng lại gặp lúc Mỹ và Pháp đã giảng hòa nên Ulysses Grant lại “đuổi khéo” sứ giả.

Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đại diện hội Những người An Nam yêu nước gởi bản Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Hòa bình Versailles cho tổng thống Mỹ Woodrow Wilson nhưng không được trả lời.

Đầu những năm 1940, cơ quan OSS (tiền thân của CIA) của Mỹ đã giúp đỡ Việt Minh thuốc men và một số vũ khí để chống Nhật, đối tượng lúc ấy là kẻ địch của cả Mỹ và Việt Nam. Việt Minh giúp đỡ lực lượng Mỹ về tin tức tình báo và giúp cứu các lính Mỹ rồi chuyển giao cho người Mỹ.


Quân Pháp đi lại trên kinh rạch ở Cà Mau

Trong chiến tranh Pháp – Việt (1945-1954), Mỹ đã đứng sau ủng hộ Pháp chiếm lại thuộc địa. Năm 1950, Mỹ bắt đầu nhúng tay can thiệp sâu vào Việt Nam, họ viện trợ tiền bạc và vũ khí cho Pháp.

Cũng trong năm này, người dân Sài Gòn dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh đã biểu tình chống hai tàu chiến Mỹ là Anderson và Stickon cập bến Sài Gòn để giúp chuyên chở lính Pháp. Một đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nã súng cối vào các tàu đang nêu đậu trên sông. Hai tàu chiến Mỹ rút neo rời khỏi Sài Gòn. Đây là cuộc biểu tình chống Mỹ đầu tiên của người dân Việt Nam.


Tàu chiến Mỹ cập cảng Sài Gòn


Quần chúng Sài Gòn xuống đường biểu tình chống Pháp – Mỹ (1950)

Đến cuối chiến tranh, Mỹ đã cáng đáng 78% chi phí chiến tranh, lên đến trên 1,5 tỷ USD. Đa phần các vũ khí mà quân đội Việt Nam tịch thu được cho đến thời điểm này chính là vũ khí của Mỹ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Mỹ đã trực tiếp chở khoảng 16 ngàn quân Pháp vào Điện Biên Phủ và hỗ trợ không quân cho Pháp.

Nhưng cuối cùng, công thức viện trợ Mỹ – viễn chinh Pháp – quân bản xứ đã phá sản trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp. Pháp đành phải ngồi vào bàn đàm phán tại hội nghị Genève về Đông Dương, công nhận nền độc lập của 3 xứ Đông Dương, rút quân trong 2 năm, ấn định tổ chức tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam vào năm 1956.


Tướng Pháp Charles Chanson mở tiệc “gắn lon” cho các sĩ quan ngụy ở một con tàu trên sông Hậu.

Giai đoạn 1954-1961

1. Mỹ từng bước thay thế Pháp

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy ý đồ của Mỹ ngay từ cuối cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau đại thắng Điện Biên Phủ, trong khi quân dân và cán bộ đảng viên ai nấy đều vui mừng phấn khởi thì Bác Hồ lại ưu tư và cẩn thận nhắc nhở đại ý: Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta còn phải đánh Mỹ!

Sau khi Pháp buộc phải ký hiệp định Genève 1954. Bác Hồ nói với các đồng chí đại ý: Hội nghị ký hiệp định Genève thành công, nhưng chắc chắn sẽ làm cho người Việt Nam chưa vừa ý. Người Pháp có câu “Ai trả tiền, kẻ đó là chủ”. Mỹ sẽ thay thế Pháp, chúng ta phải có sự chuẩn bị để đối phó với Mỹ.

Như vậy, trong khi mọi người, kể cả các lãnh đạo cao nhất cho rằng đây là thời điểm kết thúc cuộc chiến, thì Bác Hồ lại trầm tư đề tỉnh mọi người rằng chiến tranh chỉ mới bắt đầu, đây là thời điểm bắt đầu cuộc chiến mới.

Đến tháng 7 năm 1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 họp trước khi Hiệp định Genevè được ký kết mấy ngày, thì lúc đó Đảng và Bác Hồ đã đi tới kết luận: Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương.

Từ đó, Đảng và Bác Hồ đã xác định đường lối cách mạng trong giai đoạn này như sau: Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước.

Theo đó, mối quan hệ chiến lược giữa hai miền là: Xây dựng miền Bắc để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, miền Nam đẩy mạnh đấu tranh để giải phóng bản thân và cũng để bảo vệ miền Bắc. Miền Bắc có vai trò quyết định, miền Nam có vai trò trực tiếp.

Ngày 23 tháng 7 năm 1954, nội dung văn bản hiệp định được các Đảng bộ miền Nam phổ biến cho đồng bào: Việt Nam được hội nghị quốc tế long trọng công nhận độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trước mắt đất nước phải tạm chia thành hai vùng tập kết quân sự. Miền Bắc đến vĩ tuyến 17 được hoàn toàn độc lập. Miền Nam còn thuộc quyền quản lý của Pháp. Quân đội mỗi bên phải tập kết về vùng của mình quản lý. Sau 2 năm Pháp sẽ rút đi hết và dân Việt sẽ tổ chức tổng tuyển cử trên cả nước để thực hiện thống nhất. Trong thời gian chờ tuyển cử, cấm mọi phân biệt đối xử, trả thù những người đã tham gia phía đối lập, mỗi bên phải bảo đảm thực hành tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh.

Các công sở ngụy quyền và các sĩ quan, binh lính, tề, xã, ấp, nhân viên ngụy quyền của Pháp ở miền Nam thì vui mừng, vì họ thấy vẫn còn “giữ ghế” được, vẫn còn được an vị làm “phụ mẫu chi dân”, vẫn còn các đặc quyền đặc lợi.

Trong niềm vui chung hòa bình được lập lại thì nhiều người dân miền Nam không tránh khỏi nỗi lo: Hiệp định quy định rõ ràng như vậy nhưng liệu quân giặc có chịu thực hiện không? Vì bản chất của thực dân là vẫn vậy không thay đổi, “giang sơn dễ đổi, bản tính khó thay”.

Tại miền Nam, Mỹ nhận lấy chính quyền “Quốc gia Việt Nam” (État du Viêt Nam) của thực dân Pháp. Năm 1955, thay đổi người đứng đầu, đưa “thủ tướng” của “Quốc gia Việt Nam” là Ngô Đình Diệm lên thay Bảo Đại, đổi tên “Quốc gia Việt Nam” thành “Việt Nam Cộng hòa” (Republic of Vietnam), bắt đầu các chuỗi hành động hất cẳng quyền lực của Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Đầu tiên là ngày 23/10/1955, Mỹ-Diệm dàn dựng cuộc “trưng cầu dân ý” gian lận. Cho cảnh sát gõ cửa từng nhà đe dọa và ép người dân đi bầu, bắt giam những người chống lại, cho dân Công giáo di cư 1954 (vốn nhiều người chống cộng và ủng hộ gia đình Diệm) đi đầu “bỏ phiếu” rồi quay phim chụp hình để quảng cáo hình ảnh Diệm với quốc tế.

Ngày 6 tháng 10, “thủ tướng Quốc gia Việt Nam” Ngô Đình Diệm tuyên bố quyết định mở cuộc “trưng cầu dân ý”. Các cơ quan truyền thông do Mỹ cấp chi phí và điều khiển cũng bắt đầu những chiến dịch truyền truyền bôi bác Bảo Đại và ca ngợi “thủ tướng” Ngô Đình Diệm, với những khẩu hiệu phát đi phát lại như: “Phiếu đỏ ta bỏ vô bì – Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi.

Đó là vì có 2 lá phiếu: Một xanh, một đỏ. Lá màu đỏ in hình Ngô Đình Diệm với câu: “Tôi bằng lòng truất phế Bảo Đại và nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ”. Lá xanh in hình Bảo Đại thì có câu: “Tôi không bằng lòng truất phế Bảo Đại và không nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ”.

Ngày 23 tháng 10 năm 1955, việc bỏ phiếu được diễn ra và trở thành trò hề vì ban tổ chức đã sắp xếp để Ngô Đình Diệm tuyệt đối thắng. Ngô Đình Diệm “đắc cử” với “98,2%” số phiếu. Đại tá CIA Edward Lansdale trước đó đã bảo Diệm rằng: “Trong lúc tôi đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin rằng ông thắng 99,99%. Vì nếu như thế thì biết đó là kế hoạch sắp đặt trước”.

Đại tá Lục quân Hoa Kỳ, tiến sĩ Spencer C. Tucker trong sách Encyclopedia of the Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) do ABC-CLIO xuất bản năm 2000 và sử gia Stanley A. Karnow trong sách Vietnam: A history (Việt Nam: 1 lịch sử) do Penguin Books xuất bản năm 1997, đã ghi nhận cái gọi là “trưng cầu dân ý” này còn có những gian lận vụng về lộ liễu khác, như ở Sài Gòn, Diệm công bố được “605.025” phiếu trong khi khu vực này có chưa tới 450.000 cử tri ghi tên.

Sau khi hoàn thành vụ lừa đảo chính trị, Diệm công bố rằng có đến “98,2%” số phiếu ủng hộ ông ta, kết quả là Bảo Đại, tay sai trung thành của Pháp bị phế truất. Còn Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ lên đứng đầu và tự xưng là “tổng thống”. “Quốc gia Việt Nam” đổi tên thành “Việt Nam Cộng hòa”.

Ngày 13/1/1955, Diệm công bố chính thức trên truyền thông rằng Hoa Kỳ từ nay có toàn quyền về vấn đề tổ chức và huấn luyện quân đội Sài Gòn. Ngày 12/2/1955, trong một cuộc họp báo, Ngô Đình Diệm công bố từ nay trở đi tướng John O’Daniel sẽ huấn luyện cho các lực lượng quân đội.

Trước mặt đại diện Hoa Kỳ, các sĩ quan người Việt tổ chức đốt tượng trưng quân hàm, quân hiệu của quân đội Pháp mà họ vẫn đeo tại sân Bộ Tổng tham mưu. Thay vào đó là những phù hiệu kiểu mới của quân đội Mỹ.

Cuối tháng 4/1956, người lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Mỹ gây sức ép bắt Pháp bàn giao lại phi cơ, tàu thủy, xe cơ giới, dụng cụ chiến tranh cho quân đội ngụy đang được Mỹ tổ chức và huấn luyện.

Phái bộ huấn luyện quân sự hỗn hợp của Pháp – Mỹ (TRIM) trước đây đã chuyển thành “Phái bộ huấn luyện tác chiến lục quân” (CATO – Combat army training organization) gồm toàn người Mỹ. Tháng 9/1955 Mỹ chỉ có 351 sĩ quan chỉ huy ở miền Nam, đến tháng 3/1956 đã lên 1.550 người. Cơ quan trung ương của CATO do tướng Samuel Viliams quản lý, gồm 170 người: 3 cấp tướng, 49 đại tá, 68 trung tá, 50 thiếu tá phân ra nắm mọi ngành. Bên cạnh mỗi bộ tư lệnh quân khu có một đại tá và một số sĩ quan. Mỗi sư đoàn nặng có từ 6 đến 8 đại tá Mỹ, mỗi sư đoàn nhẹ có từ 3 đến 5 trung tá. “Cố vấn” Mỹ lúc này chỉ nắm cấp trung đoàn, chưa nắm cấp tiểu đoàn.

Tiếp tục lộ trình hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ bắt đầu từng bước gạt bỏ các lực lượng vũ trang thân Pháp, dùng “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” diệt các lực lượng vũ trang giáo phái được Pháp mua chuộc, trả lương. Đồng thời cũng để làm sạch đi phần nào những vết nhơ, tai tiếng về quá khứ làm quan, làm “thủ tướng” cho thực dân Pháp của Diệm và gia đình.

Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ đóng ở Rạch Tràm, thuộc xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An và huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho đã họp và nhất trí như sau: Thời gian này, nội bộ giặc đang có những diễn biến phức tạp, bọn tay sai của Pháp và của Mỹ có khả năng sẽ xung đột với nhau. Bọn theo Mỹ đã mạnh lên, hơn hẳn bọn theo Pháp. Nhưng bọn theo Pháp cũng không dễ dàng đầu hàng, vì chúng có vũ trang khá mạnh, lại chiếm cứ những vùng đông dân. Chắc chắn bọn chúng sẽ đánh nhau và điều này có lợi cho cách mạng, ta cần phải lợi dụng tình hình.

Trong khi chờ chỉ đạo của Trung ương và Xứ ủy, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ chỉ thị cho các tỉnh theo dõi chặt chẽ tình hình và cử cán bộ đi sâu tuyên truyền, vận động đồng bào theo đạo Cao Đài, Hòa Hảo, vạch trần mục đích xâm lược của Mỹ và mục tiêu trừ tôn giáo, diệt đối lập của Diệm, đồng thời cho đồng bào thấy rõ chính sách tốt đẹp của cách mạng.

Ngày 29 và 30/3/1955, Mỹ-Diệm cho một đại đội lính dù chiếm trung tâm cảnh sát, đẩy lùi quân Bình Xuyên thân Pháp của Bảy Viễn về phía Chợ Lớn. Đồng thời mua chuộc cảnh sát trưởng Lại Hữu Sang từng làm việc cho phòng nhì Pháp, và chấm dứt quyền kiểm soát của Pháp và Bình Xuyên đối với trung tâm cảnh sát.

Đối với liên minh Cao Đài, Mỹ-Diệm dùng đô la Mỹ chiêu hàng được Trịnh Minh Thế, rồi dùng ngay Trịnh Minh Thế để đánh bại Bình Xuyên, Bảy Viễn trốn sang Pháp sống lưu vong. Sau đó Mỹ-Diệm giết Trịnh Minh Thế vì cho rằng ông này “khó bảo” và “có tham vọng”.

Con trai Trịnh Minh Thế là ông Trịnh Minh Sơn ở Canada khi trả lời phóng viên Thời báo Asia là Sergei Blagov, tác giả của sách Honest Mistakes: The Life and Death of Trinh Minh The 1922-1955 (Sự sai lầm nhẹ dạ: Cuộc đời và cái chết của Trịnh Minh Thế 1922-1955) do Nova Science xuất bản năm 2001, trong bài “A tale of two assassinations: Vietnam’s JFK” (1 giai thoại của 2 cuộc ám sát: John F. Kennedy của Việt Nam) đăng trên Thời báo Asia (số 22/11/2003), đã cho biết cha của ông bị bắn 2 phát súng, chứ không phải 1 phát như thông tin chính thức mà giới truyền thông Mỹ và Sài Gòn đưa ra lúc bấy giờ. Ông cho biết cha ông đã bị ám sát để ngăn chặn khả năng ông ta trở thành một nhân vật nổi bật đủ sức thách thức vai trò đứng đầu của Diệm.

Đối với lực lượng Cao Đài Tây Ninh, Mỹ cũng nhanh chóng gây chia rẽ và mua được Nguyễn Thành Phương, Lê Văn Tất. Giáo chủ Cao Đài Tây Ninh là Hộ pháp Phạm Công Tắc không chịu cộng tác với Mỹ, đã cùng bộ sậu chạy sang Campuchia lánh nạn.

Ngày 6/5/1955, Mỹ-Diệm đưa quân ngụy đi tảo thanh tàn quân Bình Xuyên ở cầu Chữ Y, cầu Nhị Thiên Đường, Xóm Củi (Chợ Lớn), quân Bình Xuyên thua chạy về Gò Công và rừng Sác. Đến ngày 24/10/1955 thì lực lượng Bình Xuyên hoàn toàn bị tiêu diệt. Riêng quân Bình Xuyên do ông Bảy Môn chỉ huy thì trước đó đã được lực lượng kháng chiến chống Mỹ thuyết phục và đã sớm rút sang Thị Vải để dựa vào cách mạng và đồng bào chống Mỹ-Diệm. Con trai của Bảy Viễn là tham mưu trưởng lực lượng Bình Xuyên cũng tử trận trong chiến dịch này.

Một tuần sau khi quân ngụy và tàn quân Bình Xuyên đánh nhau, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ được Bộ Chính trị Trung ương Đảng chỉ đạo: “Tìm cách duy trì lực lượng giáo phái ly khai để gây khó khăn cho Mỹ-Diệm”. Ông Tư Long, Liên tỉnh ủy viên, được chỉ thị thôi làm Bí thư Tỉnh ủy Long Xuyên để về cơ quan liên tỉnh ủy, đặc trách công tác Hòa Hảo vận, ngụy vận, binh vận, chính trị vận.

Tháng 5/1955, Mỹ-Diệm bắt đầu thanh toán Hòa Hảo. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo đến thời điểm này đã có 3 nhóm độc lập với nhau là Trần Văn Soái (Năm Lửa), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) và Hai Ngoán. Ngày 20/5/1955, quân ngụy dưới sự chỉ huy của các “cố vấn” Mỹ tập trung lực lượng tổng tấn công vào cả ba nhóm Hòa Hảo.

Ngày 29/5/1955 nhóm của Hai Ngoán sớm đầu hàng. Hai nhóm Năm Lửa và Ba Cụt thất thế liền trốn vào Đồng Tháp Mười lập căn cứ chống Mỹ-Diệm. Cả Năm Lửa và Ba Cụt đều cử người bắt liên lạc với cách mạng để tìm kiếm sự ủng hộ.

Đây là thời cơ để cách mạng duy trì mâu thuẫn giữa Mỹ – Pháp, giữa chính quyền Diệm với lực lượng Năm Lửa – Ba Cụt, kéo dài sự tranh giành đối kháng giữa hai phe thế lực này. Cách mạng đã cử cán bộ trực tiếp gặp Năm Lửa, Ba Cụt và một số viên chỉ huy khác để tranh thủ vận động họ cùng chống Mỹ, kẻ xâm lược mới.

Mùng 3 Tết Bính Thân năm 1956, do bị đánh quá ráo riết, Năm Lửa đem 4.000 quân đầu hàng Mỹ-Diệm. Lực lượng Ba Cụt ở Kiên Giang với nòng cốt là trung đoàn Lê Quang vẫn cố chống giữ.

Đảng Cộng sản Việt Nam vận động nhân dân vì lợi ích cách mạng mà đóng góp tiền bạc và lương thực nuôi mấy ngàn quân Hòa Hảo. Nhờ sự giúp đỡ này và được cán bộ quân sự của cách mạng vốn già dặn kinh nghiệm sau 9 năm đánh Tây làm cố vấn, lực lượng vũ trang Hòa Hảo đã tồn tại và thắng được một số trận: Xảo Xáu (Giồng Riềng), Vườn Cỏ (Long Mỹ), Cây Bàng (An Biên).

Ngày 13/4/1956, Ba Cụt bị “phó tổng thống” Nguyễn Ngọc Thơ dùng tình bạn cũ lừa ra Cần Thơ để nhận chức trung tướng và bị Nguyễn Ngọc Thơ cho quân lính bắt ở Chắc Cà Đao. Đến ngày 13/7/1956 Ba Cụt bị xử chặt đầu ở Cần Thơ. Dân gian lúc đó đã ví von sự kiện này như câu chuyện Hồ Tôn Hiến lừa Từ Hải trong Truyện Kiều. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo của Ba Cụt một số ra hàng Mỹ, số lớn tan rã, số còn lại khá đông theo về với cách mạng, gia nhập các lực lượng vũ trang kháng chiến.

2. Tố Cộng – Diệt Cộng

Sau khi tận diệt Bình Xuyên và các giáo phái, Mỹ lúc này đã yên tâm và không còn phải lo người Pháp quay lại tranh giành với mình. Mỹ-Diệm chuyển sang bình định những vùng tạm chiếm, đàn áp những phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành hiệp định Genève về Đông Dương, hành quân càn quét khắp thôn làng, đánh phá cách mạng, củng cố sự chia đôi Việt Nam.


Công nhân và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn biểu tình chống Mỹ-Diệm (1958), bất chấp mọi ngăn cấm, trấn áp.

Họ chia dân ra làm 3 loại: “Gia đình loại A” là những gia đình kháng chiến chống Pháp cũ, gia đình có người tập kết ra Bắc, những người yêu nước, muốn hòa bình, độc lập, thống nhất. Bọn ngụy gọi chung những người này là “Việt Cộng” thay cho danh từ “Việt Minh” vốn có tiếng thơm trong dân, không cần biết họ có phải là cộng sản thật hay không. Ngụy quyền bắt phải treo bảng đỏ (hoặc bảng đen, tùy địa phương) ghi chữ “cộng sản” ngay trước cửa nhà các “gia đình loại A” để đánh dấu. Những người trong gia đình loại này thường xuyên bị phân biệt đối xử, theo dõi và quản chế gắt gao, bị tra khảo đánh đập, đối xử vô nhân đạo.

“Gia đình loại B” là những gia đình có liên hệ bà con họ hàng thân thuộc với “loại A”, hay có mối liên hệ nào đó với cách mạng, thì trước nhà phải treo bảng vàng “thân cộng”. Những người trong gia đình loại này mỗi tháng phải làm tờ cam kết ly khai cộng sản, thường xuyên phải đi lao động khổ sai.

“Gia đình loại C” gồm những kẻ chống cộng, thù cộng sản, có những ân oán tư thù với Việt Minh, trung thành với Mỹ-Diệm, là vây cánh tay chân của Mỹ-ngụy, nên ngụy quyền có những chính sách ưu đãi đặc biệt đối với những gia đình loại này.

Phương châm của ngụy quyền là “dựa vào loại C, đánh vào loại A làm cho loại B khiếp sợ và khuất phục”.

Ngụy quyền buộc những gia đình trước đây tham gia kháng chiến chống Pháp, hay có con cháu tham gia kháng chiến phải ra trình diện nhận giấy “cán bộ hồi chánh”. Họ bắt mỗi gia đình phải chụp chung một tấm hình, khai rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp treo trước cửa nhà.

Họ lập ra tổ chức “ngũ gia liên bảo”, cột 5 đến 7 gia đình lại với nhau và phải chịu trách nhiệm kiểm soát, theo dõi, đề phòng lẫn nhau, không cho “cộng sản” đến ăn ở trong các gia đình này.

Khái niệm “cộng sản” cũng mơ hồ, không cần phải có thẻ Đảng, những ai ăn nói giống như cộng sản, hay thậm chí chỉ cần quan điểm giống Việt Minh, ai tán thành, đồng ý với các lập luận, quan điểm của cộng sản, thì có thể được “chụp nón cối” cộng sản. Từ đó chiếc “nón cối” cộng sản thường xuyên được tùy tiện gán cho bất kỳ ai mà những kẻ ăn trên ngồi trốc muốn hãm hại, thanh toán tư thù, cướp nhà cướp ruộng hay thậm chí là cướp vợ, cướp con gái.


Đồng bào Sài Gòn biểu tình tại chợ Bến Thành phản đối những tội ác của chế độ Mỹ-Diệm (1960)

Họ tổ chức những cuộc đấu tố cộng sản (tố cộng), bắt người này theo dõi và tố cáo người kia, kể cả các thành viên trong gia đình, bôi nhọ Bác Hồ, Đảng và Nhà nước. Trong nhiều buổi tố cộng, họ bắt nhiều người phải dẫm lên hoặc xé ảnh Bác, quốc kỳ Việt Nam, ai từ chối không làm thì bị bắn chết ngay tại chỗ để “làm gương” hoặc bắt bớ, tra tấn vô nhân đạo trong tù. Sự cực đoan, cuồng tín, quá khích đã lên đến mức cao nhất.

Tuy nhiên, giặc càng ra sức tố cộng, diệt cộng, thì đồng bào càng ra sức bảo vệ, nuôi giấu những chiến sĩ cách mạng mặc dù điều đó nguy đến tính mạng của họ và có thể liên lụy đến gia đình, người thân. “Tao có chết chỉ thiệt mình tao, mày mà chết thì thiệt cho đồng bào.”, đó là lời nói thường hay nghe ở nhiều lão nông Nam Bộ.

Ngày 6/5/1959, ngụy quyền Sài Gòn mua chuộc một số báo chí tư nhân có xu hướng chống cộng cực đoan, và cho một số báo chí “tư nhân” trá hình ở Sài Gòn tuyên truyền vận động “sát cộng”, và ban hành “Luật 10/59”, một đạo luật quy định việc tổ chức các tòa án kiểu phát xít để xử “tội”, bắt bớ, cầm tù và hành quyết (thường là chặt đầu kiểu phong kiến, nên dân gian có câu “lê máy chém khắp miền Nam” để nói về hiện tượng này) những người chống Mỹ, yêu nước, đòi thống nhất đất nước mà họ gọi là “cộng sản”.


Người dân Long An biểu tình chống luật 10/59. Mỹ-Diệm càng đàn áp bắn giết thì người dân càng không sợ và càng biểu tình chống lại, bất chấp mọi nguy hiểm.

Trước đó, từ năm 1954 đến khi “luật” này có hiệu lực đến năm 1960, đã có khoảng 466 ngàn người cộng sản và cả những người không cộng sản bị bắt, trong đó có khoảng 400 ngàn người bị tù đày, và khoảng 65 ngàn người bị giết hại ở miền Nam Việt Nam.

Trong các nhân vật “hung thần” tàn ác của nhà họ Ngô thì Ngô Đình Cẩn, em trai của Diệm, là hung tàn nhất. Cẩn bị người dân miền Trung gọi là “bạo chúa miền Trung”.

Các tội ác này của chính quyền họ Ngô chẳng những không răn đe được nhiều người, trái lại càng làm người dân căm phẫn và đẩy họ về phía kháng chiến. Đồng thời các tội ác đó càng làm sôi sục, nung nấu ý chí đấu tranh, tạo thêm động lực đấu tranh của các đảng viên cộng sản, thôi thúc đồng bào theo cách mạng để giải phóng miền Nam.

3. Chương trình bình định nông thôn

Nông thôn miền Nam Việt Nam ngay từ thời tiền chiến (trước chiến tranh chống Pháp) đã luôn là căn cứ vững chắc của cách mạng Việt Nam, vì vậy nông thôn luôn là trọng điểm đánh phá của giặc. Mỹ-ngụy đã tiến hành chương trình bình định nông thôn từ năm 1955.

Chương trình do tướng John O’Daniel, trưởng Phái đoàn đào tạo huấn luyện Mỹ (TRIM) ở Sài Gòn, khởi thảo từ tháng 12/1954, sau đó, được Robert Komer, phó đại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam, tiếp tục hoàn chỉnh dần. Được Ngô Đình Diệm chính thức công bố năm 1955.

Chương trình gồm có các mục tiêu cơ bản:

  • Tiêu diệt các lực lượng cộng sản địa phương.
  • Dùng các chương trình lợi ích công cộng để tranh thủ, lôi kéo dân, tách dân ra khỏi cộng sản.
  • Ổn định và giữ vững vị trí của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam thông qua việc củng cố vị trí của Việt Nam Cộng hòa.

Để thực hiện chương trình này, trong từng thời kỳ khác nhau, Mỹ-ngụy đã đề ra nhiều kế hoạch với những mục tiêu cụ thể, bao gồm: Kế hoạch xây dựng Khu dinh điền, Khu trù mật (1959-1961); Kế hoạch bình định nông thôn 18 tháng (Kế hoạch Staley-Taylor, tháng 7/1961 – tháng 12/1962); Kế hoạch xây dựng trại tập trung (Ấp chiến lược), hạn chế quyền tự do đi lại của dân, tách dân ra khỏi quân để “tát nước bắt cá”, Ấp tân sinh (1963-1968); Kế hoạch bình định cấp tốc (1969); Kế hoạch bình định và phát triển nông thôn (1969-1970); Kế hoạch bình định và phát triển đặc biệt (1970-1971); Kế hoạch cộng đồng tự vệ, cộng đồng phát triển (1972-1975); Kế hoạch cộng đồng tái thiết, cộng đồng phát triển (1973-1974); Kế hoạch cộng đồng an ninh, cộng đồng phát triển (1974-1975).


Truyền đơn của Ban quân sự tỉnh Rạch Giá được rải ở vùng Rạch Giá, Kiên Giang

Chính quyền Sài Gòn đã lập Bộ Bình định Nông thôn với hệ thống tổ chức từ trung ương đến các xã, ấp, nòng cốt là các đoàn bình định nông thôn (đoàn 59). Ở mỗi xã có một đoàn bình định nông thôn gồm 59 người, bọn họ do CIA huấn luyện để đưa về các xã, ấp mở các chiến dịch chiến tranh tâm lý.

Năm 1967, Mỹ thành lập Cơ quan Phát triển Nông thôn và Hoạt động Dân sự (CORDS), cử Komer trực tiếp làm giám đốc để thống nhất chỉ huy các hoạt động bình định của Mỹ-ngụy.

Năm 1971, các đoàn 30 người được rút gọn thành các đoàn phát triển nông thôn 10 người (Đoàn 10) để phù hợp với nhiệm vụ mới của kế hoạch bình định phát triển đặc biệt. Chức năng chủ yếu của các Đoàn 10 là làm công tác tình báo phục vụ mục đích tiêu diệt cơ sở cách mạng miền Nam của chương trình Phượng Hoàng (Phoenix Program), ban đầu do CIA trực tiếp tiến hành sau đó bàn giao lại cho ngụy quyền.

Các Đoàn 10 hoạt động đến năm 1972, sau khi chương trình Phượng Hoàng hoạt động không hiệu quả như ý và còn bị lên án gay gắt trong dư luận thế giới về các tai tiếng tội ác (khủng bố, lạm sát bừa bãi, bắt cóc, giam cầm bất hợp pháp, tra tấn vô nhân đạo, ám sát, thủ tiêu v.v.) phải chấm dứt hoạt động. Trong những năm 1972-1975, nhiệm vụ bình định nông thôn được giao cho các xã đoàn bình định nông thôn và các tổ chức cơ sở của Ủy ban Phượng Hoàng.


Người dân miền Nam biểu tình chống chính sách “Ấp chiến lược” (1960)

3A. Khu trù mật – Ấp chiến lược

Nằm trong chương trình chung “bình định nông thôn”, Mỹ-ngụy có 4 chương trình gom dân, dồn dân với bản chất giống nhau và các hình thức, mức độ, cách làm khác nhau. Đó là các chương trình Khu dinh điền, Khu trù mật, Ấp chiến lược và Ấp tân sinh, trong đó Ấp chiến lược là mang tính chất trại tập trung kiểu phát xít và gây nhiều tai tiếng nhất. Khu trù mật có tính chất mị dân hơn nhưng cũng không kém phần tai tiếng.


Ấp chiến lược nhìn từ trên không


Ấp chiến lược với hàng rào bằng tre và hào cạn cắm chông bao quanh

Khu trù mật là một khu dồn dân, gom dân, có điều kiện sinh hoạt vật chất hơn hẳn nơi cư trú cũ của nông dân. Do người Mỹ cấp chi phí lập ra năm 1959 ở một số nơi thuộc vùng đồng bằng Nam Bộ, nhằm mục đích dụ dân, xoa dịu lòng dân, và nhất là tách dân ra khỏi quân đội kháng chiến và mọi ảnh hưởng của cách mạng.

Chưa biết Khu trù mật chiêu dụ được những ai nhưng trước mắt là thấy bao nhiêu đất của dân bị cướp không, 3.000 công ruộng lúa đang trổ bông của dân bị dập nát vì xây nhà. Nhóm chỉ huy xây dựng khu trù mật tập trung lực lượng cu li lấy trong 5 huyện: Càng Long, Trà Ôn, Vũng Liêm, Tiểu Cần và Cầu Kè, mỗi đợt 20.000 người làm trong 7 ngày, xong đổi sang đợt khác. Họ cưỡng bách lao động gần như là khổ sai, bắt dân lao động nặng nề mà ăn uống thì phải tự túc. Thời gian kéo dài 20 đợt thì khu mới hình thành.

Tài liệu “Cuộc đồng khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960” của đại tá Lê Hồng Lĩnh, do NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2006 đã ước tính trong chương trình Khu trù mật người dân đã bị bóc lột khoảng 2.800.000 ngày làm không, 50 người dân chết vì lao động quá cực nhọc, ăn uống kham khổ, đau bệnh không thuốc men. Có 6 người chết rã thây tại chỗ. Ngoài ra bảo an dân vệ còn xuống càn quét, cướp của, giết người ở các ấp lân cận, quấy rối các “gia đình loại A”.

Quân ngụy liên tục càn quét gom dân, bắt dân các ấp Lo Co A, Lo Co B, Trung Thiên, 9A, 9B của xã An Trường, các ấp lân cận của xã Mỹ Cẩm phải dỡ nhà vào khu trù mật. Đồng bào đã cố gắng chống lại. Nhưng với sức mạnh của gần một tiểu đoàn lính, ngụy quân đã gom được khoảng 1.500 gia đình vào đây.

Việc lập khu trù mật Lo Co tiến hành bằng cách bắt buộc người dân 5 huyện làm cu li cực nhọc không công và ngược đãi, giết người, và buộc dân phải bỏ nhà bỏ cửa đã gây sự bất mãn, oán hận của người dân.

Khi vào khu, lúc đầu giặc còn lừa mị, mua chuộc. Nhưng sau đó bản chất của chương trình này dần lộ nguyên hình khi bộ máy kìm kẹp của khu trù mật đã ráo riết hoạt động. Họ phân hóa, cô lập và quản lý từng nhà. Họ buộc người dân ai làm ruộng của địa chủ thì phải nộp tô cho địa chủ và còn phải truy nộp tô. Ai không đóng thì bị cầm tù cho đến khi nào có tiền mới thả.

Ban đêm họ cho người đi rình rập từng nhà, nghe lén nói chuyện, dò la tin tức, nghe ngóng từng người trong gia đình, xách nhiễu, bắt bớ những ai mà họ gọi là “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng Sản”. Những hành động đe dọa hàng ngày hàng giờ đó đã tạo ra một bầu không khí nặng nề khó thở và làm cho cuộc sống của người dân bị gom vào càng thêm ngột ngạt.

Để chống lại, Huyện ủy Càng Long đã bày cho nhân dân tránh né, kiếm cớ như giả đau bệnh, mắc kẹt việc nhà để từ chối lao động khổ sai. Khi bị bắt tới nơi thì có cách trốn tránh. Dân còn mang truyền đơn vào rải, vạch trần tội ác của giặc, viết khẩu hiệu phản đối sự hành hạ của giặc.

Ở bên ngoài thì người của cách mạng phát loa kêu gọi đồng bào không dỡ nhà vào khu, kể tội ác bắt dân đi làm khổ sai không cho ăn, không cấp thuốc của giặc. Một tội ác giặc gây hôm nay thì ngày mai loa phát thanh của cách mạng đã lên án tội ác đó.

Nói chung, chương trình được thực hiện thí điểm từ tháng 5/1959 ở Vị Thanh (Cần Thơ), Mỏ Cày (Bến Tre). Từ tháng 7/1959 được thực hiện rộng rãi ở miền Nam. Do cưỡng bức nông dân rời bỏ quê nhà, ruộng vườn, từ bỏ tập quán, lại đặt dưới sự kiểm soát ngặt nghèo của lực lượng quân đội, mật vụ, cảnh sát, nên chương trình này bị người dân phản đối quyết liệt. Đến năm 1962, chương trình Khu trù mật được thay thế bằng chương trình Ấp chiến lược.


Hồ sơ Ấp chiến lược của ngụy quyền

Tuy nhiên, các tai tiếng của chương trình Khu trù mật không thể nào sánh bằng chương trình Ấp chiến lược (Strategic Hamlet Program). Ấp chiến lược là một trại tập trung có công trình phòng thủ bao quanh (thường gồm 3 hào sâu, 2 thành cài chông mìn, dây thép gai), tổ chức thành các “liên gia”, được kiểm soát cực kỳ chặt chẽ như một cỗ máy hoàn chỉnh, có lính ngụy canh gác, ban quản trị điều hành mọi hoạt động theo một quy chế nghiêm ngặt nhằm tách du kích ra khỏi nhân dân và tách nông dân ra khỏi phong trào cách mạng, “tát nước bắt cá”.

Hai giáo sư sử học Randy Roberts và James Stuart Olson trong sách Where the Domino Fell – American and Vietnam 1945-1995 (Nơi Domino rơi – Người Mỹ và Việt Nam 1945-1995) do Brandywine Press xuất bản năm 1999 đã nhận xét: “Cái gọi là chương trình Ấp chiến lược thực chất là lùa nông dân Việt Nam ra khỏi làng quê tổ tiên của họ và nhốt họ trong những khu đất rào quanh chắc chắn giống như một nhà tù hơn là các cộng đồng thật sự”.

Ấp được thiết kế theo mục tiêu cô lập dân, thường có hai vòng rào. Vòng ngoài bằng dây kẽm gai, tre hoặc bụi gai. Vòng trong đắp đất, trên gắn kẽm gai. Giữa vòng ngoài và vòng trong là hào sâu khoảng hơn một mét cắm chông nhọn. Mỗi ấp đều có một hoặc nhiều chòi canh có tầm nhìn xa; các cổng ra vào được canh gác cẩn mật.

Ban ngày, người lạ muốn vào ấp phải qua sự kiểm soát vô cùng chặt chẽ. Ban đêm, các cổng ra vào đều đóng lại. Mọi trường hợp xâm nhập từ bên ngoài vào đều bị phát hiện vì trong ấp có hệ thống báo động điện tử. Chung quanh ấp là một diện tích đồng trống để lính canh dễ theo dõi việc di chuyển phía ngoài. Tổng cộng có khoảng 6 vạn binh lính đảm nhiệm việc canh phòng và tuần tra các Ấp chiến lược.

Chương trình được Mỹ-Diệm thực hiện từ tháng 3 năm 1962 theo kinh nghiệm xâm lược Philippines của Mỹ và có tham khảo khuôn mẫu của thực dân Anh trong cuộc đàn áp phong trào du kích ở Malaysia. Giới chóp bu ngụy quyền gọi đó là “quốc sách”. Nó là xương sống của chính sách bình định nông thôn với dự án xây dựng 17 ngàn ấp.

Ban đầu, chương trình thực hiện hiệu quả, hoạt động của quân Giải phóng bị ngưng trệ. Tuy nhiên, trong khi thi hành thì nhiều viên chức ngụy tham nhũng, ăn bớt tiền viện trợ của Mỹ rồi bắt dân phải gánh chịu thay như phải nộp tiền, công sức và tre để làm hàng rào cho ấp. Dân bị cưỡng bách lao động xây dựng Ấp chiến lược, trong khi đó việc đồng áng của họ bị bỏ phế. Dân chúng bị gom vào một chỗ, phải rời bỏ quê cha đất tổ và mảnh đất ông cha đã gắn bó nhiều năm, nhiều đời, làm xáo trộn nếp sống thường nhật, văn hóa dân tộc và địa phương, gây tâm lý bất bình của quần chúng nông thôn.

Riêng trong năm 1963, quân Giải phóng và người dân miền Nam đã phá hoàn toàn 2.895 Ấp chiến lược trong số 6.164 ấp được lập, số còn lại đã bị phá đi phá lại 5.950 lần ấp. Quân Giải phóng giành quyền làm chủ ở 12.000 thôn trong tổng số 17.000 thôn toàn miền Nam, gồm hơn 5 triệu dân trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam. Hơn 1,5 triệu ha trên tổng số 3,5 triệu ha ruộng đất đã về tay nông dân; hơn 23.000 thanh niên miền Nam đã gia nhập quân Giải phóng. Hàng ngàn Ấp chiến lược đã biến thành làng chiến đấu.


Quân Giải phóng và người dân quan sát mô hình Ấp chiến lược và bàn cách phá trại.

Ấp chiến lược thất bại vì nó là một chính sách phản động của giặc xâm lược và là một hệ thống bất nhân, gây lầm than cho dân và oán than trong dư luận. Một số nguyên nhân khác về việc sụp đổ của chương trình Ấp chiến lược bao gồm: Tham nhũng, ăn bớt tiền tài trợ Mỹ dành cho chương trình; tổ chức kém; người Mỹ không trực tiếp làm, thiếu nhân sự chuyên môn; thi hành vội vã và theo cách áp đặt, cưỡng bách, gây nhiều tội ác. Bên cạnh đó quân Giải phóng thì phát động phong trào phá trại để trở về quê cũ.

Nói chung, hệ thống Ấp chiến lược dù có thành công phần nào trong mục tiêu “tát nước bắt cá”, nhưng “tác dụng phụ” của nó là những tai tiếng ngày càng tăng trong dư luận Việt Nam và quốc tế, nó gây ra sự bất mãn, hờn oán tột cùng trong dân, và nó dần thất bại trong các phong trào phá Ấp chiến lược do cách mạng phát động với sự hưởng ứng gần như tuyệt đối của bà con nông thôn.

4. Đường Trường Sơn – Đường mòn Hồ Chí Minh

Năm 1955, chủ tịch Hồ Chí Minh và đại tướng Võ Nguyên Giáp đã bàn kế sách chi viện cho miền Nam, phác thảo các kế hoạch và phương pháp cụ thể. Đến năm 1959, Đường Trường Sơn bắt đầu được xây dựng bí mật, cùng với 4 con đường khác được triển khai mà mãi đến gần đây mới được hé lộ và giải mật.

Đường Trường Sơn được xem là con đường huyết mạch, đóng vai trò lớn trong chiến thắng của Việt Nam trước Hoa Kỳ, nó là một mạng lưới giao thông chiến lược quy mô lớn, chạy từ Bắc vào Nam, đi qua miền Trung, Lào và Campuchia.

Hệ thống giao thông này đã tiếp viện nhân lực và vật lực cho cuộc chiến chống Mỹ trong 15 năm (1960-1975). Binh đoàn Trường Sơn (đoàn 559) của quân đội Việt Nam là đơn vị triển khai các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không để bảo đảm cho hoạt động của hệ thống đường này. Con đường này đi qua 20 tỉnh ở Việt Nam.

Hệ thống đường này được đặt tên giản dị là Đường Trường Sơn, lấy tên của dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, nơi hệ thống này đi qua. Người Mỹ gọi hệ thống giao thông chiến lược này là “Ho Chi Minh Trail” (Đường mòn Hồ Chí Minh). Sau đó báo chí Việt Nam thấy hay nên đã dùng danh từ này để gọi xen kẽ bên cạnh danh từ “Đường Trường Sơn”. Ngoài ra đường này còn một tên gọi khác ít sử dụng hơn: “Đường 559” (năm 1959).



Bộ đội Trường Sơn lái xe trên hai sợi dây để “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Tài lái xe tránh chướng ngại vật và máy bay Mỹ của họ trên con đường huyết mạch này, trong khi vẫn bảo đảm tốc độ di chuyển, đã được dư luận ghi nhận và gọi họ là các “phi công mặt đất”.

Một phần của Đường Trường Sơn vốn đã tồn tại từ hàng thế kỷ dưới hình thức các con đường mòn sơ khai dành cho việc giao thông buôn bán trong vùng. Khu vực mà hệ thống đi qua là một trong những vùng đất có địa hình hiểm trở nhất thế giới: Núi cao, ít dân, rừng rậm nhiệt đới.

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Việt Minh đã sử dụng hệ thống đường mòn này làm đường nối liền Bắc – Nam, một trong các tuyến đường đưa cán bộ di chuyển giữa hai miền và tránh được tai mắt quân Pháp và cả Phòng nhì Pháp. Đến năm 1958, các lực lượng của Việt Nam và Pathet Lào đã chiếm giữ các nút giao thông tại Tchepone, trên đường 9 nằm trong địa phận Lào. Đường Trường Sơn chính thức được xây dựng phát triển thêm vào năm 1959, ra mắt chính thức vào đúng ngày sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1959), được đưa vào sử dụng từ năm 1960 đến năm 1975.

Một trong những mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam là ngăn chặn sự tiếp viện từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, là 1 trong các mục tiêu chính, cũng là mục tiêu lớn nhất của họ, chính là Đường Trường Sơn, và họ đã đẩy những nỗ lực chiến tranh lên cao nhất để đạt cho bằng được mục tiêu đó.

Nhằm đạt được mục tiêu chiến lược đó, Mỹ tiến hành nhiều loại hình chiến tranh công nghệ cao như: Chiến tranh điện tử (đặc biệt lừng danh với McNamara Line – Hàng rào điện tử McNamara, một phát kiến của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara), chiến tranh hóa học (đặc biệt tai tiếng với Agent Orange – Chất độc da cam, và độc chất Dioxin bên trong nó, đã gây ra thảm họa sinh thái ở Seveso (Ý), Times Beach (Missouri, Mỹ), Love Canal (New York, Mỹ)), và chiến tranh khí tượng trên toàn tuyến đường.

Lần đầu tiên Mỹ đã sử dụng nhiều vũ khí hiện đại nhất, với những công nghệ mới nhất, tập trung khối lượng lớn nhất bom, mìn thả xuống dọc dãy Trường Sơn. Các loại hình chiến tranh điện tử, chiến tranh hóa học và chiến tranh khí tượng của giặc Mỹ đã gây khó khăn và tổn thất nặng nề cho Binh đoàn Trường Sơn.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp thị sát chiến trường trên đường Trường Sơn và đến thăm hỏi, khích lệ, động viên, căn dặn những cán bộ chiến sĩ Trung đoàn ô tô vận tải 13 đang làm nhiệm vụ vận tải chi viện chiến trường (13/3/1973).

Một trong những chương trình tiêu biểu của tác chiến điện tử trong cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam chính là Hàng rào điện tử McNamara (McNamara Line), là tên gọi cho hệ thống các phương tiện điện tử phát hiện thâm nhập được quân đội Mỹ sử dụng dọc theo khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17 và Đường Trường Sơn như một biện pháp trinh sát mặt đất tự động nhằm phát hiện các hoạt động vận chuyển của Quân đội Nhân dân Việt Nam lưu thông qua khu vực này.

Hàng rào điện tử McNamara được xây dựng từ tháng 6 năm 1966 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara, bao gồm hệ thống 17 căn cứ quân sự, kết hợp với hệ thống vật cản (hàng rào dây thép gai, bãi mìn….), các thiết bị trinh sát điện tử mặt đất và trên không (rađa, máy cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn….), được bố trí liên hoàn trong khu vực có chiều rộng 10-20 km, dài khoảng 100 km từ cảng Cửa Việt lên đường 9, tới biên giới Việt Nam – Lào, sang Mường Phìn (Lào). Công trình này đã tiêu tốn hơn 2 tỷ USD.

Các máy phát hiện thâm nhập thường theo nguyên lý phát hiện địa chấn, vì vậy chúng có tên gọi kết thúc bằng 3 chữ SID (Seismic Intrusion Detector). Các máy này dùng để phát hiện thâm nhập bằng đường bộ. Loại máy được biết đến nhiều nhất, thường được gọi là “cây nhiệt đới” (ADSID – Air Delivered Seismic Intrusion Detector), được thả từ trên máy bay để đầu nhọn có cảm biến địa chấn cắm vào trong mặt đất. Phần thấy được còn lại trên mặt đất là ăng-ten. Có loại máy phát hiện địa chấn có kèm thêm bộ phận thu truyền âm thanh để trạm trinh sát kiểm tra đối tượng gây địa chấn là người hay xe vận tải (ACOUSID). Ngoài các máy phát hiện địa chấn thả từ máy bay còn có các máy có tính năng tương tự do binh lính triển khai, thường dùng trong các hoạt động chiến thuật phục vụ canh phòng hay phục kích (GSID hay Ground Seismic Intrusion Detector, PSID hay Patrol Seismic Intrusion Detector và HANDSID).


Cưỡi voi vượt Trường Sơn đi đánh giặc

Theo hồ sơ biên bản buổi chất vấn trong Thượng viện Mỹ ngày 20/3/1974 trong kho lưu trữ tài liệu về Chiến tranh Việt Nam của trường Đại học Texas Tech thì Mỹ đã dùng chất độc để phá hoại khí hậu, thời tiết, địa chất ở miền Nam Việt Nam. Trong chiến dịch “Operation Popeye”, Mỹ dùng công nghệ cao tạo ra mây để tăng lượng mưa khoảng 30% trong suốt hai năm 1967 và 1968 trên Đường Trường Sơn, hy vọng gây khó khăn và làm giảm nhuệ khí, ý chí của quân dân Việt Nam di chuyển trên những con đường đó. Mỹ cũng đã rải hóa chất quanh Khe Sanh để xua tan những sương mù gây khó khăn cho không quân của họ trong chiến dịch Khe Sanh năm 1968.

Đây là một loại hình chiến tranh mà Mỹ đã sử dụng những công nghệ tiên tiến nhất cùng những thiết bị hiện đại nhất với mục đích làm đảo lộn, phá hủy môi sinh, thiên nhiên, gây lụt lội, tắc ách ở trên những tuyến của đường mòn Hồ Chí Minh chi viện từ Bắc vào Nam, đặc biệt với con đường huyết mạch Trường Sơn. Chiến tranh khí tượng của Mỹ được che đậy dưới những danh từ thơ mộng, vô hại, thân thiện như “Người đồng bào trung gian” (Intermediary compatriot), “Chương trình mở mắt” (Popeye), “Công trình sông Nile xanh” (Blue Nile)….


Gian nan vượt Trường Sơn đi cứu quốc

Ngoài “Đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ” kể trên, miền Bắc còn tiếp viện cho miền Nam qua 4 “Đường mòn Hồ Chí Minh” khác: Đường Hồ Chí Minh trên biển, đường nhiên liệu, đường hàng không và đường chuyển ngân.

Trong những chuyến đầu từ năm 1961 trở đi trên Đường Hồ Chí Minh trên biển, CIA của Mỹ, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo (CIO – Central Intelligence Office) và Nha Kỹ thuật (STD – Strategic Technical Directorate) của ngụy quyền đã biết con đường này ngay từ những chuyến đầu, nhưng họ chưa biết là tàu nào vì có quá nhiều tàu đánh cá, và biển cả mênh mông không biết tàu miền Bắc sẽ đi đường nào để tiếp viện vào Nam.

Do đó, họ đã tăng cường rải quân quan sát, ngăn cản, đón bắt, trong đó có các căn cứ ở Hoàng Sa và Trường Sa. Sở dĩ như vậy là vì sau năm 1968, hải quân Việt Nam phải đi đường xa, đường vòng, và đi ngang qua Hoàng Sa – Trường Sa chứ khó thể đi gần đất liền được nữa vì Mỹ-ngụy đã biết nên canh phòng kỹ, giăng ra “thiên la địa võng” để truy lùng, đón đánh cho bằng được những đoàn tàu không số, nhằm ngăn chặn con đường quan trọng “Hồ Chí Minh trên biển”, 1 trong 5 “đường mòn Hồ Chí Minh”, là tuyến đường vận tải bí mật trên Biển Đông được thành lập để vận chuyển vũ khí và cả nhân lực từ miền Bắc vào tiếp viện cho miền Nam.

Đường nhiên liệu trên những đường ống với tổng chiều dài tới 5.000 km, để vận chuyển xăng dầu suốt từ biên giới Việt – Trung và các cảng biển miền Bắc vào đến tận Nam Bộ, có chỗ vượt qua cả những độ cao tới gần ngàn mét. Con đường này CIA mơ hồ nhận thức là có tồn tại qua các tin tức tình báo chung chung, nhưng họ không có chứng cứ gì chi tiết cụ thể, vì vậy mọi nỗ triệt phá của Mỹ-ngụy trên con đường này đều rất kém hiệu quả.

Đường hàng không vừa bí mật vừa công khai, hay nói chính xác hơn là bí mật trong công khai, bí mật về nhiệm vụ và công khai về đi lại. Người chiến sĩ bắt đầu thường là lặn lội đến Nam Vang (Campuchia), rồi từ đây bay trở lại miền Nam Việt Nam, thậm chí bay ngang qua chính Sài Gòn, ghé Hồng Kông hoặc Quảng Châu (Trung Quốc) rồi về Hà Nội. Con đường này đã từng vận chuyển hàng ngàn lượt tướng tá từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc, vận chuyển tiền bạc cho cơ quan Kinh tài của miền Nam, vận chuyển rất nhiều thứ máy móc, thuốc men quan trọng, vận chuyển thương binh, vận chuyển vợ con những chiến sĩ và cán bộ của miền Nam ra Bắc để học tập và điều dưỡng.

Đường chuyển ngân thì vô cùng bí ẩn, vì đó con đường vô hình vô ảnh, không có đường trên đất liền, trên biển, trên không, trên những đường ống, mà là đi theo hệ thống ngân hàng của chính các nước phương Tây và hệ thống ngân hàng ở ngay Sài Gòn để chuyển tiền một cách “công khai” từ Bắc vào Nam, từ các nguồn tài trợ của các nước vào Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn rút ra tiền bản địa để chi tiêu cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Không có xe, không có máy bay, không có tàu thủy, không có gùi thồ, chỉ những mật mã, những cú điện là tiền từ Paris, London, Hồng Kông, Bangkok, Moskva, Bắc Kinh…. được chuyển qua Sài Gòn rồi lên các căn cứ địa ở khắp miền Nam, được thanh toán cho những địa chỉ cần thiết ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Con đường đó suốt 20 năm “ai làm thì biết”, CIA không biết, chính quyền Sài Gòn càng không biết, nên không một ai bị bắt, không một vụ chuyển ngân nào bị phát hiện.

5. Hệ thống địa đạo

Đường Trường Sơn và 4 đường mòn Hồ Chí Minh là một trong số nhiều công trình xây dựng kỳ vĩ và rất đặc thù Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm thời hiện đại, bên cạnh hệ thống địa đạo của Việt Nam được xây dựng và sử dụng trong hai cuộc kháng chiến, tiêu biểu như địa đạo Củ Chi (250 km, dài nhất châu Á) địa đạo Vịnh Mốc, địa đạo Kỳ Anh, địa đạo Nam Hồng, địa đạo Gò Thì Thùng, địa đạo Nhơn Trạch, địa đạo của chiến khu Đ và hàng trăm địa đạo lớn nhỏ khác ở cả hai miền Việt Nam.

Đặc biệt địa đạo Củ Chi nổi tiếng đã trở thành một biểu tượng chống xâm lược của Việt Nam, mỗi năm thu hút hơn 1 triệu lượt du khách quốc tế. Địa đạo này được xây dựng từ năm 1948 trong kháng chiến chống Pháp, ban đầu địa đạo chỉ có chiều dài khoảng 48 km, sau đó được mở rộng dần lên. Đến năm 1975 kết thúc kháng chiến chống Mỹ thì địa đạo đã có tổng chiều dài trên 250 km, dài nhất trong số các địa đạo ở châu Á.


Địa đạo Củ Chi rộng lớn, được coi là một “thành phố đường hầm.

Đất thép Củ Chi là một kỳ quan, và điều đáng khâm phục là “thành phố đường hầm” này là một kỳ quan nhân tạo, được xây dựng trong hoàn cảnh khó khăn với một công nghệ lạc hậu, chứ không phải kỳ quan thiên nhiên hay các kỳ quan nhân tạo khác mà các dân tộc khác thảnh thơi xây dựng trong thời bình.

Năm Đường mòn Hồ Chí Minh và hệ thống địa đạo của Việt Nam đã thể hiện ý chí sắt đá, lòng kiên trung và kiên nhẫn đáng khâm phục, tài tổ chức đáng kinh ngạc, nói lên đỉnh cao trí tuệ thời chiến của người Việt Nam. Năm con đường, hàng trăm công trình xây dựng và tất cả những phẩm chất Việt Nam đó đã đóng vai trò to lớn trong chiến thắng của dân tộc Việt Nam.


Cửa hầm bí mật. Những cửa hầm ngầm này chỉ có người Việt thể hình nhỏ mới có thể vào.
Nhưng ở các cửa hầm khác. Lực lượng đặc biệt Tunnel rat (Lính chuột cống) của quân đội Mỹ vẫn có thể đem chất nổ tiến vào phá hầm. Những người “lính chuột cống” này hành quân xen kẽ cùng các lực lượng chủ lực. Họ được tuyển chọn từ những người thể hình nhỏ, phần lớn lực lượng này là lính đánh thuê từ Puerto Rico (đất phụ thuộc chưa thành tiểu bang của Hoa Kỳ).

 

6. Khởi nghĩa Trà Bồng

Với chủ trương đánh tan những vở tuồng “bầu cử” “quốc hội” nghị gật và bất hợp pháp của Mỹ-Diệm, đưa phong trào cách mạng tiến lên một bước cao hơn, ngày 13/3/1959, theo sự lãnh đạo của các Đảng bộ ở Quảng Ngãi, trên 400 đồng bào 2 xã Trà Giang, Trà Thủy kéo xuống quận lỵ, biểu tình đấu tranh chính trị vạch trần, lên án những màn kịch “bầu cử” “quốc hội” bù nhìn và phi pháp của Mỹ-Diệm.

Lính ngụy đàn áp, giải tán cuộc biểu tình, rồi mấy ngày sau đi càn quét trả thù, trả đũa. Trước tình hình đó, Thường vụ cơ quan lãnh đạo tỉnh và Ban cán sự miền Tây đã lãnh đạo người dân đấu tranh. Ngày 25/8/1959, Ban cán sự miền Tây, theo thực tế tình hình, đã tạm gác lại chủ trương đấu tranh chính trị thuần túy của Trung ương và đã chỉ thị cho phép tự vệ chống trả lại giặc bằng vũ trang; sử dụng đơn vị 339 đưa về các địa phương để hỗ trợ cho nhân dân và các lực lượng bán vũ trang.

Sáng ngày 28/8/1959, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra khá thành công ở vùng cao Trà Bồng. Người dân xã Trà Sơn kéo ra rẫy, ra rừng cương quyết không chịu bị cưỡng bách đi “bầu cử”, khi các đơn vị lính ngụy vác súng đến định đẩy bà con đi “bầu cử” thì bà con dùng lý lẽ đấu tranh, thuyết phục, tranh thủ lính ngụy.

Dân chúng các xã Trà Phong, Trà Thanh, Trà Nham cũng nổi dậy, dùng vũ khí thô sơ chống giặc. Đến trưa thì cuộc khởi nghĩa đã lan rộng ra 16 xã vùng cao. Ngụy quân phải rút bỏ quận lỵ chạy về tỉnh. Các ủy ban tự quản của nhân dân lần lượt được thành lập. Ngày 3/9/1959, nhân dân xã Trà Phong mở Đại hội bầu ra Ủy ban nhân dân tự quản. Sau đó, lần lượt 16 xã vùng cao đã bầu ra Ủy ban nhân dân tự quản. Các Ủy ban nhân dân tự quản ở Nam Việt Nam là một trong những tiền đề chính đưa đến quyết định thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sau này.

Liên tục 8 ngày đêm chiến đấu, quân dân, du kích Trà Bồng đã đánh tan bộ máy ngụy quyền trong thị xã, phá vỡ các đồn bốt, diệt 161 lính giặc và loại khỏi vòng chiến hàng trăm kẻ khác. Hơn 40 xã thuộc các huyện miền Tây Quảng Ngãi đã thành công giành chính quyền, tạo ra một thế đứng vững chắc của lực lượng kháng chiến, trên một địa bàn hiểm yếu nối liền với căn cứ kháng chiến ở Tây Nguyên.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và các cuộc nổi dậy ở miền Tây Quảng Ngãi đã mở đầu thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, góp phần đẩy mạnh phong trào khởi nghĩa từng phần của quân dân miền Nam trong những năm 1959-1960. Cuộc khởi nghĩa còn làm tăng thanh thế cho cuộc kháng chiến và góp phần khích lệ, cổ vũ cho cao trào Đồng khởi bùng lên sau đó.

7. Phong trào Đồng khởi

Trong giai đoạn 1957-1959, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, nhất là từ khi Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật 10/59 công khai tàn sát, làm nhiều cán bộ, đảng viên và người dân bị giết hại, tù đày. Trong khi chủ trương và đường lối của cách mạng lúc đó là thuần túy đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang về cơ bản là chưa được phép. Tình hình lúc đó là trên chưa cho đánh, trong khi quân giặc ngày càng tăng cường tàn sát.

Hiện tượng đó làm nhiều cán bộ, đảng viên và người dân miền Nam bất mãn và bớt niềm tin vào Đảng và Trung ương ở Hà Nội về chủ trương chỉ đấu tranh chính trị – không đấu tranh vũ trang. Bất mãn nhưng vẫn làm theo. Tuy nhiên vẫn có một số người mất hết lòng tin, nản lòng rồi ra hàng giặc.

Vào tháng 8/1956, ông Lê Duẩn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đi quan sát và lấy ý kiến Đảng bộ và nhân dân Cà Mau, Bến Tre và khu vực Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn để hoàn thành dự thảo “Đường lối cách mạng miền Nam“. Hội nghị lần thứ hai của Xứ ủy đã đã thông qua “Đường lối cách mạng miền Nam” và báo cáo Bộ Chính trị và chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Đường lối cách mạng miền Nam” trở thành văn kiện chính trị “Đề cương cách mạng miền Nam“, trong đó có những kết luận quan trọng sau đây:

“Trên cơ sở nhận rõ mục đích yêu cầu, vị trí và đối tượng của cách mạng miền Nam, cần định ra đường lối phương pháp đấu tranh thích hợp để phát triển lực lượng, đẩy mạnh phong trào, đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công…. Muốn chống Mỹ-Diệm nhân dân miền Nam chỉ có con đường cách mạng, không có con đường nào khác“.

“Trong hai năm nay, ở khắp nông thôn miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng đạn đàn áp của Mỹ-Diệm, không ngày nào những người yêu nước không bị tàn sát, nhưng tinh thần cách mạng của nhân dân vẫn vững vàng, quyết tâm của quần chúng bảo vệ cách mạng vẫn không lay chuyển”.

“Có nhiều hình thức khác nhau để đánh đổ một chính quyền phản động, nhưng mọi chính quyền thù địch với nhân dân sụp đổ đều theo một quy luật chung: một chính quyền phản động nhất định sẽ sụp đổ khi mà đa số nhân dân không thể sống một cách bình thường dưới chính quyền ấy được nữa, khi mà đội quân tiên phong và đông đảo quần chúng cách mạng biểu thị quyết tâm vùng lên đánh đổ nó, khi mà bản thân bọn cầm quyền cũng không cai trị một cách bình thường được nữa. Tức là khi chính quyền của chúng bị suy yếu đến mức trở nên bất lực do sự xung đột giữa nhân dân với chúng ngày càng gay gắt, do sự khủng hoảng của chúng ngày càng nghiêm trọng, nhất là về chính trị, do mâu thuẫn nội bộ bọn cầm quyền ngày càng sâu sắc và do tình hình thế giới phát triển không có lợi cho chúng”.

Như vậy là tiếp theo Nghị quyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng (tháng 6/1956), Đề cương cách mạng miền Nam và nghị quyết Xứ ủy Nam Bộ đã xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam. Trước mắt trong tình hình hòa bình phát triển đã qua nhưng toàn dân khởi nghĩa chưa tới, Xứ ủy Nam Bộ đã tổ chức vũ trang tuyên truyền theo kinh nghiệm của chủ tịch Hồ Chí Minh khi Bác thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Thực tiễn tổ chức và hoạt động vũ trang tuyên truyền còn do sự sáng tạo của từng địa phương và diễn ra phong phú nhưng đều nhằm tiến tới khởi nghĩa lật đổ chính quyền Mỹ-Diệm. Tại Liên khu V, do sự tấn công càn quét có hiệu quả của Mỹ-ngụy và do các Đảng bộ địa phương nhận định không rõ đặc điểm khác nhau của từng vùng trong khu để vận dụng phương pháp đấu tranh thích hợp, nên phong trào đấu tranh ở đồng bằng bị sa sút nặng.

Tháng 9/1956, vì là nhân vật lãnh đạo đầu não quan trọng và muốn được an toàn, ông Lê Duẩn ra Bắc theo đường Hồ Chí Minh trên biển và đường hàng không, 2 trong 5 “đường mòn Hồ Chí Minh”. Ông đi tàu biển từ Campuchia ra Hồng Kông, bay sang Quảng Châu (Trung Quốc) đến 4/6/1957 mới tới Hà Nội.

Ra Hà Nội, ông Lê Duẩn trình lên Hồ chủ tịch và Bộ Chính trị bản Đề cương cách mạng miền Nam với kết luận: “Ban đầu thì miền Nam nổi dậy nhưng cuối cùng phải dùng sức mạnh của cả nước mới cản được đế quốc Mỹ”. Đồng thời báo cáo cụ thể với Bộ Chính trị về tình hình địch – ta và ý kiến, nguyện vọng của đảng viên, quần chúng trong Nam đề nghị phát động đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên quan điểm của Lê Duẩn chưa tìm được nhiều sự đồng thuận. Tuy nhiên, sau khi đọc đề cương và nghe Lê Duẩn báo cáo, sau khi suy nghĩ cặn kẽ, chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giao cho ông Lê Duẩn làm công việc của Tổng bí thư Đảng và trực tiếp chỉ đạo cách mạng miền Nam.

Đánh giá rất cao Đề cương cách mạng miền Nam, Hồ chủ tịch giao cho Lê Duẩn chuẩn bị một Nghị quyết về cách mạng miền Nam. Ông Lê Duẩn hỏi thêm ý kiến của Bác Hồ, trao đổi với các lãnh đạo như đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng…. và đã cùng nhiều đồng chí lãnh đạo và cán bộ nghiêm túc chuẩn bị cho Nghị quyết mới. Chưa có một dự thảo nghị quyết nào của Trung ương được chuẩn bị công phu như nghị quyết này.

Lúc này, nhiều nhà lãnh đạo Liên Xô khuyên Việt Nam là “nên giữ hòa bình”. Còn Trung Quốc thì vẫn lặp lại chủ trương từ đầu của họ là nên “trường kỳ mai phục”. Nên “mai phục” 10 năm, 20 năm, thậm chí cả 100 năm, “đại nghiệp thống nhất là sự nghiệp lâu dài”, “hiện tại các đồng chí chưa thống nhất được thì đời con cháu sẽ làm trong tương lai”. Đây không hẳn là sự góp ý chân thật mà là một lời ngụy biện “khuyên đểu”, một ngụy biện quanh co ý nói hãy thủ tiêu tranh đấu, ngưng chiến đấu chống Mỹ, vì các mục đích, mục tiêu và lợi ích chính trị của họ.

Trong tình hình đó, chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, Nhà nước, Chính phủ đều phải ngày đêm suy nghĩ để vạch ra đường lối và biện pháp, bước đi phù hợp cho cách mạng miền Nam sao cho giành được thắng lợi mà ít tổn thất xương máu, lại thích hợp với tình hình trong và ngoài nước, bảo đảm được đoàn kết quốc tế và tranh thủ được sự giúp đỡ, viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào hòa bình thế giới.

Vào cuối năm 1958, tình hình miền Nam đã quá căng thẳng. Các cuộc đánh phá đẫm máu của ngụy quyền họ Ngô đối với người dân đã đến đỉnh cao về mức độ khốc liệt và tính chất phi nhân. Những người cộng sản và cả những người yêu nước phi cộng sản bị truy lùng ráo riết. Cơ sở Đảng bị tổn thất nặng nề. Hàng ngày, khắp nơi đều có “đầu rơi máu chảy” đúng nghĩa đen.

Sự chịu đựng của dân đã đến giới hạn cuối cùng, họ đòi “nợ máu phải trả bằng máu”. Tất cả nông dân xã Hòa Hội, tỉnh Tây Ninh đều ký tên vào bức tâm thư gởi lên Bác Hồ báo cáo: “Nhân dân bị khủng bố, cán bộ bị giết hại, xin cho bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc trở về đánh giặc cứu dân”.

Trong một cuộc mít tinh có cụ già nghẹn ngào, uất ức nói: “Bác Hồ ơi!, Mỹ-Diệm nó độc ác quá lắm rồi, Bác cho phép đồng bào băm nát đầu chúng nó”. Tỉnh Thủ Dầu Một có 30 lão nông gởi thơ lên Xứ ủy, chất vấn gay gắt: “Tình hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không?”. Các cụ yêu cầu Xứ ủy đề nghị lên Bác Hồ cho đấu tranh vũ trang trở lại, nếu không thì không thể nào thắng Mỹ. Đây là nguyện vọng và cũng là nỗi bức xúc của bà con miền Nam.

Ý nguyện đó của người dân đã thôi thúc các cấp ủy Đảng ở miền Nam, khu V và những đảng viên, cán bộ hoạt động ở cơ sở mạnh dạn lãnh đạo quần chúng tìm kiếm / chế tạo vũ khí hoặc tước súng giặc đánh giặc, tăng cường vũ trang, chủ động nổi dậy ở những nơi có đủ điều kiện mặc dù chưa có ý kiến của Trung ương.

Nổi bật nhất trong thời kỳ này là các sự kiện quan trọng:

  • Tại Cà Mau, hàng chục vạn dân kéo vào rừng U Minh và Năm Căn lập nên hàng chục “làng rừng” công khai chống Mỹ-Diệm, lập vùng tự do, tự quản lý, xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng để chống giặc.
  • Tại Thủ Dầu Một, lực lượng vũ trang cách mạng đã tiến lên tiêu diệt được chi khu quận lị Dầu Tiếng tịch thu được rất nhiều súng đạn và tiền trong 10 két sắt.
  • Tại miền Tây Quảng Ngãi đã diễn ra Đại hội Gò Rô của đồng bào các dân tộc kêu gọi các dân tộc anh em đoàn kết xung quanh cụ Hồ, đồng lòng hợp sức đánh đổ Mỹ-Diệm. Mọi người không phân biệt dân tộc, già, trẻ, gái, trai…. phải sẵn sàng chuẩn bị nổi dậy giành chính quyền.

Bước vào năm 1959, cách mạng Việt Nam đứng trước một quyết định hệ trọng. Ngày 13/1/1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) mở rộng khai mạc tại thủ đô Hà Nội dưới sự chủ tọa của Hồ chủ tịch và ông Lê Duẩn.

Dự Hội nghị có nhiều nhà lãnh đạo các địa phương Khu V ở miền Nam. Các ông Phan Văn Đáng, Phạm Văn Xô đại biểu Xứ ủy Nam Bộ; các ông Trần Lương, Võ Chí Công đại biểu Khu V đã vượt qua hàng ngàn cây số và đồn bót, kịp tới Hà Nội dự hội nghị. Các đồng chí lãnh đạo địa phương đã đưa về đây các tin tức nóng hổi, các cập nhật tình hình mới nhất, và quan trọng là nguyện vọng, ý muốn của nhân dân và các đảng bộ miền Nam.

Hội nghị Trung ương đã nghiên cứu trao đổi phân tích kỹ về tình hình địch – ta, khảo sát khả năng và lực lượng cách mạng, tìm ra đường lối, phương pháp cách mạng thích hợp nhất cho miền Nam.

Vấn đề nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng, vấn đề kẻ thù đều nhanh chóng có được sự đồng thuận. Còn những vấn đề gay cấn mà mọi người tranh luận gay gắt nhất là:

  • Đánh giá đế quốc Mỹ.
  • Cách mạng miền Nam, chiến tranh cách mạng và vấn đề bảo vệ hòa bình chung.
  • Phương pháp cách mạng ở miền Nam.

Trong lịch sử Đảng tới thời điểm đó chưa có hội nghị nào của Trung ương mà được chuẩn bị công phu, trao đổi sôi nổi, kỹ càng như hội nghị này. Tranh luận ráo riết gần như cả ngày. Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương tiến hành suốt cả tháng từ giữa tháng giêng đến giữa tháng tháng 2 năm 1959.

Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam ở miền Nam cuối cùng được đề ra như sau:

  • Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
  • Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô đình Diệm tay sai Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới.

Về con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, Trung ương Đảng nhận định không thể đi ra ngoài quy luật chung của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa là dùng bạo lực cách mạng.

Về chế độ thống trị của Mỹ-Diệm dựa vào bạo lực phản cách mạng để tồn tại, mà ta thì phải dựa vào lực lượng quần chúng, lấy lực lượng quần chúng để đánh đổ kẻ thù, cho nên muốn đạt được mục tiêu đó, cần phải có một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ. “Phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng thì mới có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi cuối cùng”.

Về khả năng hòa bình phát triển, Trung ương Đảng cho rằng khả năng này hầu như không có, vì Mỹ đã quyết tâm bám lấy miền Nam, sẽ không bao giờ có chuyện họ tự nguyện giải tán ngụy quyền, từ bỏ các hành động xâm lược và tội ác chiến tranh.

Quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam là quá trình xây dựng, củng cố phát triển phong trào quần chúng đấu tranh chính trị từ hình thức thấp đến hình thức cao, đẩy lùi địch từng bước tiến đến làm lay chuyển tận gốc chính quyền đó, “cuối cùng phát động quần chúng khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ-Diệm khi có thời cơ thuận lợi ở trong nước và trên thế giới”.

Ông Hai Văn và Hai Xô hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ trương đấu tranh vũ trang tại miền Nam, Người nói: “Dù sao cũng không thể để cách mạng chịu tổn thất hơn nữa. Xứ ủy các chú có là Đảng không? Trung ương ở xa, các chú phải tùy tình hình, cân nhắc kỹ lưỡng mà quyết định và chịu trách nhiệm”. Các đồng chí miền Nam hỏi về khả năng phải tiến hành chiến tranh cách mạng, Bác Hồ nói đại ý: Mỹ Diệm quá tàn ác, không đánh không được. Đánh Pháp ta phải vừa đánh vừa học, đánh Mỹ cũng phải vừa đánh vừa học, lâu dài nhưng nhất định thắng lợi.

Nói chung, hội nghị này đã quyết định cho phép lực lượng miền Nam sử dụng võ lực để đánh đổ chế độ Mỹ-Diệm. Sau khi Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam được thông qua, quân dân miền Nam từ các hình thức đấu tranh thuần túy chính trị đã chuyển sang hình thức đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, từ đó cách mạng miền Nam mới có chuyển cơ tích cực.

Tại Bến Tre, Nghị quyết 15 đã làm quân dân vỡ òa, cuối cùng cũng cho đánh rồi. Từ nay quân dân miền Nam không còn phải chịu đựng, phải giấu súng trốn tránh nữa, mà có thể công khai dùng võ lực tự vệ, bắn trả, chống càn, chống trả các đợt tấn công, càn quét của quân thù. Sau quyết định này, các xưởng quân giới mọc lên nhiều nơi ở nông thôn miền Nam.


Gỡ lựu đạn địch đánh địch, tận dụng, tiết kiệm từng vũ khí


Già trẻ gái trai Sóc Trăng tham gia chế tạo võ khí thô sơ để chống càn


Một góc công binh xưởng Sóc Trăng sản xuất mìn, đạp lôi


Công trường chế tạo vũ khí đánh Mỹ của tỉnh Bến Tre


Một công binh xưởng ở Bình Phước sản xuất vũ khí để đánh giặc

Riêng ở Bến Tre nhiều súng ngựa trời đã được chế tạo. Đây là loại súng tự chế có sức sát thương cao, để bù đắp sự thiếu thốn vũ khí của lực lượng vũ trang miền Nam trong giai đoạn miền Bắc chưa tiếp viện. Các vũ khí giả, súng giả, đại bác giả được làm từ…. cây dừa, chất liệu dừa của đồng bào xứ dừa Bến Tre đã thành công gây sợ hãi cho một số đồn giặc và thuyết phục được họ đầu hàng, sau đó quân dân Bến Tre lại lấy súng của họ đi đánh những đồn giặc không chịu đầu hàng. Lấy súng giả tước súng thật, rồi dùng súng giặc đánh giặc.

Đêm 2 tháng 1 năm 1960, ban lãnh đạo tỉnh Bến Tre họp tại xã Tân Trung, quyết định: “Phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi, diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, giải phóng nông thôn, làm chủ ruộng vườn”. Đồng thời quyết định khởi nghĩa thống nhất từ ngày 17 tháng 1 đến ngày 25 tháng 1.


Người dân Bến Tre biểu tình chống Mỹ-Diệm.

Ngày 17/1/1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi bùng nổ đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre). Chỉ sau hai ngày, 3 xã trên hoàn toàn giải phóng. Trung đội quân Giải phóng đầu tiên của Bến Tre được thành lập tại vườn Dừa, xã Bình Khánh. Sau đó, phong trào chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở các xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ dưới sự lãnh đạo của nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Từ thành công trên, trong vòng 1 tuần (17 đến 24 tháng 1), 47 xã ở Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú nổi dậy. Lực lượng nổi dậy làm chủ nhiều ấp, trong đó hoàn toàn làm chủ 22 xã.


Người dân Giồng Trôm, Bến Tre cắm chông diệt giặc

Ngày 24 tháng 2, Mỹ-Diệm phản kích, huy động hơn 3.000 quân đánh vào 3 xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp. Các du kích xã đã dùng các vũ khí thô sơ phản công, điển hình là súng ngựa trời. Cuộc tấn công thất bại. Từ Bến Tre, phong trào Đồng khởi lan khắp miền Nam, làm lung lay các ngụy quyền địa phương.

Ngày 25/3/1960, hơn 10.000 quân hỗn hợp Thủy – Bộ – Biệt kích – Dù tiến vào vây đánh nhiều xã ở huyện Mỏ Cày. Trước tình hình trên, lãnh đạo Bến Tre quyết định dùng biện pháp chính trị, phát động quần chúng, đặc biệt là phụ nữ, trong đó có rất nhiều người chính là bà, mẹ, người nhà của các sĩ quan và binh lính ngụy. Hàng vạn phụ nữ này tràn ngập những vùng tạm chiếm làm náo loạn sự ổn định của địch, họ đặc biệt tụ tập ở những nơi có phóng viên chiến trường người nước ngoài để thu hút sự chú ý của dư luận bạn bè quốc tế, đồng thời làm cho Mỹ-ngụy sợ dư luận mà không dám khinh suất gây tội ác hay đàn áp quá mạnh bạo.

Các sĩ quan ngụy gọi họ là “đội quân đầu tóc”, từ đó dần biến thành “đội quân tóc dài” và danh từ này trở thành danh từ thông dụng để gọi phong trào đấu tranh chính trị của phụ nữ miền Nam Việt Nam, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ.


Đội quân tóc dài ở Bến Tre yêu cầu đế quốc Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Tháng 3/1960, đội quân tóc dài bao gồm hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm biểu tình đòi các đơn vị quân chủ lực ngụy đang càn quét phải rút về vị trí cũ. Tháng 6/1960, các chi bộ Đảng quyết định phát động Đồng khởi trên toàn Nam Bộ.

Ngày 24/9/1960, quân dân Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi lần hai. Bấy giờ, phong trào không chỉ diễn ra ở những nơi họ nghĩ là có thể thắng thế mà còn dám phát động ngay cả ở những vùng trọng yếu khác.

Cùng thời gian với Bến Tre, tỉnh Kiến Phong cũng nổi dậy. Các đại đội 272, 274 đã có các trận đánh tiêu diệt và làm bị thương 25 lính giặc, chiếm trụ sở xã, thu súng và làm chủ xã Mỹ Hòa. Đến ngày 20/1/1960 thì quân dân Kiến Phong đã tiêu diệt, làm bị thương 165, chiêu hàng 40 lính ngụy.

Trong khi ngụy quyền địa phương đang lo đối phó với Mỹ Hòa thì huyện Hồng Ngự nổi dậy. Bắt đầu từ 3 xã Tân Thành, Thường Thới, Thường Phước. Đại đội 271 diệt đồn Cả Cái, giải phóng Tân Thành. Tại Cao Lãnh, lực lượng vũ trang xã Bình Thạnh bức rút đồn Bà Cò, làm chủ 1 ấp, thuộc xã Đốc binh Kiều.

Từ ngày 6/3/1960, phong trào càng lan rộng ra các tỉnh. Tại Cà Mau, tiểu đoàn Ngô Văn Sở phục kích đánh bại, tiêu diệt và bắt sống 150 lính, thu 133 súng, giải phóng nhiều xã. Tại Sóc Trăng, sáu tháng đầu năm 1960, những vùng nông thôn các huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Gia Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lộc đều lần lượt trở thành vùng giải phóng.

Các sự kiện trên chủ yếu ở mặt trận Tây Nam Bộ. Nhưng mặt trận Đông Nam Bộ cũng không kém phần quyết liệt. Xứ ủy Nam Bộ sau khi kiến nghị với Trung ương Đảng nâng cao đấu tranh vũ trang đã quyết định mở một trận tiến công lớn. Mục tiêu là lấy thêm vũ khí để nhanh chóng phát triển lực lượng, mở rộng phong trào Đồng khởi, từ Tây Nam Bộ lan sang Đông Nam Bộ.

Địa điểm được chọn là bốt Tua Hai, tiền tiêu án ngữ biên giới Việt Nam – Campuchia, nằm trên đường 22, các thị xã Tây Ninh 5 km về phía bắc. Lực lượng ngụy có 2 trung đoàn, 1 chi đội thiết giáp, 1 đại đội pháo. Lực lượng khởi nghĩa gồm 1 tiểu đoàn và một bộ phận lực lượng tàn quân giáo phái trước đây ở trong các quân đội của đạo Cao Đài, bắt đầu tấn công từ ngày 26/1/1960. Lính ngụy thua to, khoảng 500 lính tử trận, gần 500 bị bắt sống. Lực lượng cách mạng thu được 1.500 súng các loại.

Trận Tua Hai mở đầu cho cuộc đồng khởi ở Đông Nam Bộ. Sau Tua Hai, quân dân Tây Ninh phá sập hơn 50% đồn bốt, giải phóng 24 xã và làm chủ nhiều phần tại 19 xã khác. Ngày 16/3/1961, tiểu đoàn 800 và quân dân miền Đông Nam Bộ tấn công Chi khu quân sự Hiếu Liêm, hôm sau tấn công bốt An Lạc, hỗ trợ quần chúng các nơi nổi dậy.

Tính đến cuối năm 1960, phong trào Đồng khởi về cơ bản đã làm tê liệt cơ cấu ngụy quyền cơ sở ở nông thôn trên gần như toàn miền Nam. Trong 2.627 xã toàn miền Nam, người dân địa phương đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã (lúc này Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chưa thành lập), đồng thời làm tê liệt ngụy quyền cơ sở ở hầu hết xã khác.

Dân số vùng giải phóng toàn miền Nam có khoảng 6,5 triệu người trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam. Phong trào nổi dậy của người dân Đông – Tây Nam Bộ đã giáng một đòn mạnh vào kế hoạch lập Khu trù mật và chính sách “cải cách điền địa” của Mỹ-Diệm.

Trong một báo cáo gửi tổng thống Mỹ John F. Kennedy, CIA nhìn nhận: “Chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1960 tình hình an ninh trong nước vẫn tiếp tục ngày càng xấu đi và nay đã lên tới mức nghiêm trọng. Toàn bộ vùng nông thôn ở phía nam và tây nam Sài Gòn cũng như một số vùng phía Bắc đã nằm trong quyền kiểm soát rất lớn của Việt Cộng.”

Tham khảo thêm: Phim tài liệu Đồng khởi – Bến Tre

8. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập

Thiết kế chính trị của một chế độ cộng sản thường có Đảng và Mặt Trận. Đảng trên nguyên tắc là lực lượng tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lãnh đạo đất nước. Còn Mặt Trận trên nguyên tắc là một mặt trận đoàn kết dân tộc, đoàn kết các giai cấp để cùng nhau thực hiện mục tiêu chính trị hiện tại của Đảng.

Mặt Trận ở Việt Nam trong lịch sử hiện đại có nhiều tên gọi, trong đó có 3 tên gọi được nhiều người biết tới: Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra trước khi có Việt Minh còn có Mặt trận Phản đế Đông Dương, Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Dân tộc Thống nhất….

Đây là những Mặt trận khác nhau về tên gọi và mục tiêu trong từng thời kỳ, nhưng có cùng 1 bản chất, cùng 1 vai trò với các nhiệm vụ khác nhau. Nhiệm vụ của Mặt trận Việt Minh là đoàn kết dân tộc để chống Pháp trên toàn quốc. Nhiệm vụ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đoàn kết dân tộc để chống Mỹ trên phạm vi miền Nam Việt Nam. Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, bao gồm mọi thành phần, tầng lớp, trong và ngoài nước, để cùng nhau xây dựng đất nước.


Bất chấp nhiều vụ xả súng vào đoàn biểu tình và các tội ác chiến tranh, người dân miền Nam vẫn giương cao cờ Mặt Trận biểu tình chống Mỹ, đòi độc lập, thống nhất, hòa bình dân tộc.

Mặt Trận chính thức hoạt động ở miền Nam Việt Nam từ cuối năm 1960, lấy tên là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, có nhiệm vụ đoàn kết các tầng lớp nhân dân, giai cấp, dân tộc, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và các nhân sĩ trí thức yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh chống Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập (nghĩa là không mang màu sắc ý thức hệ), tiến tới thống nhất nước nhà.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như các Mặt Trận trước đó và sau này, là các tổ chức chính trị – xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện các nhiệm vụ đoàn kết toàn dân để đạt mục tiêu chính trị do Đảng đề ra trong từng thời kỳ khác nhau. Các tên gọi của Mặt Trận tương xứng với các nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ đó.


Lễ tiễn thanh niên tỉnh Mỹ Tho lên đường nhập ngũ (1961)

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên), tỉnh Tây Ninh. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Ông Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương.

Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, các thành viên của nó tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người. Tới năm 1973, thành phần Mặt Trận đã lên đến 32 tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo và hoạt động công khai. Mặt Trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Xứ ủy Nam Bộ và sau này là Trung ương Cục miền Nam.

Tại cấp trung ương, Ủy ban Trung ương của Mặt Trận bầu ra Đoàn chủ tịch, là cấp cao nhất, giúp việc có các Ban chuyên môn của Mặt Trận, hay các Hội đồng chuyên môn của Trung ương Mặt trận. Các cấp địa phương cũng có các ban thành lập theo quy định. Trong đó có cả Ban Quân sự, nhưng tương tự như Bộ Quốc phòng sau này nó chỉ làm nhiệm vụ hành chính. Quân Giải phóng miền Nam là lực lượng tham gia Mặt Trận công khai và do Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng chỉ đạo quân sự, theo sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các tổ chức Mặt Trận tổ chức tại cấp dưới theo vùng: Tây Nam Bộ, Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Sài Gòn – Gia Định, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, tỉnh Tây Ninh. Tổ chức Mặt trận cấp vùng chịu sự lãnh đạo của cấp Trung ương.

Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương được tổ chức ở 4 cấp: Cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Trong giai đoạn 1960-1967, Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương các cấp thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng ở cấp mình. Đến năm 1968, một số địa phương như Thừa Thiên-Huế, Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, Đà Nẵng v.v. thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng, thì Ủy ban nhân dân cách mạng làm nhiệm vụ của chính quyền. Sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời thì chính phủ và Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp làm nhiệm vụ chính quyền.




Giấy bạc Việt Nam được sử dụng trong vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

 

Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1961-1965)

Để tránh thất bại ở miền Nam Việt Nam sau cao trào Đồng khởi, trước tình trạng lung lay, rạn nứt và nguy cơ sụp đổ của hệ thống ngụy quyền, người Mỹ đã chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt (Staley-Taylor plan), tăng số quân từ 1.077 tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy lên 10.962 tướng tá, sĩ quan, nhân viên quân sự (1962). Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) được thành lập tại Sài Gòn ngày 8/2/1962 để chỉ huy quân đội Sài Gòn.

Chiến tranh đặc biệt là một cuộc chiến “đặc biệt”, không tuyên bố và không quy ước theo các thông lệ chiến tranh thông thường. Nó là một hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Hoa Kỳ, được tiến hành chủ yếu bằng quân lính bản xứ, dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố vấn” từ đông đảo các cấp tướng lĩnh và các viên chỉ huy người Mỹ, và dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ để đánh dẹp trong những vùng tạm chiếm và tấn công lấn chiếm những vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

Chiến lược chiến tranh đặc biệt được thực thi bằng kế hoạch Staley-Taylor, được công bố vào tháng 5/1961, mang tên hai người soạn thảo ra nó là nhà kinh tế học Eugene Staley của Viện nghiên cứu Stanford – Đại học Stanford và đại tướng Maxwell D. Taylor, theo tiến độ, kế hoạch được triển khai trong 4 năm (1961-1965). Nội dung của nó là bình định miền Nam trong vòng 18 tháng. Kế hoạch bao gồm 3 biện pháp chiến lược:

  • Tăng cường khả năng tác chiến cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, sử dụng nhiều máy bay, xe tăng để nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng vũ trang Việt Cộng, sĩ quan Mỹ chỉ huy các đơn vị chiến đấu Việt Nam Cộng hòa, từ cấp đại đội trở lên.
  • Giữ vững thành thị, đồng thời dập tắt nổi dậy ở nông thôn bằng các chiến dịch tảo thanh, bình định và hệ thống Ấp chiến lược.
  • Ra sức ngăn chặn biên giới kiểm soát ven biển, ngăn chặn nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào Nam, cô lập cộng sản miền Nam.

Tại miền Nam, Mỹ-Diệm ra sức bắt lính, tăng nhanh lực lượng ngụy quân. Lính ngụy được trang bị hiện đại, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới, như Trực thăng vận, Thiết xa vận.

Theo sự chỉ huy của “cố vấn” Mỹ, quân ngụy liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng miền Nam, tiến hành nhiều hoạt động gởi biệt kích, thám báo ra miền Bắc, hoạt động kiểm soát, phong tỏa biên giới và vùng biển, củng cố sự chia cách Bắc – Nam.

Thoạt tiên, Mỹ-Diệm dự định thực hiện chiến tranh đặc biệt, trọng tâm là mục tiêu bình định trong vòng 18 tháng, bắt đầu từ giữa năm 1961 bằng kế hoạch Staley-Taylor. Đến đầu năm 1964, khi 18 tháng đã qua, miền Nam vẫn chưa được bình định, Mỹ đặt lại yêu cầu khiêm tốn: Bình định miền Nam có trọng điểm trong thời hạn 2 năm bằng kế hoạch Johnson-McNamara (mang tên tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson và Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara).

Để đáp ứng yêu cầu khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng và chống chiến tranh đặc biệt của Mỹ, ngày 15/2/1961, các lực lượng võ trang miền Nam hợp nhất thành Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là sự kiện quan trọng tiếp sau sự kiện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra mắt đồng bào. Trung ương Cục miền Nam cũng được thành lập vào tháng 1/1961 thay cho Xứ ủy Nam Bộ cũ. Quân Giải phóng miền Nam cũng là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được xem là QĐNDVN của miền Nam Việt Nam.


Quân Giải phóng miền Nam giúp dân gặt lúa ở Kế Sách, Sóc Trăng

Quân giải phóng miền Nam đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh võ trang, kết hợp nổi dậy với tiến công, trên cả ba vùng chiến lược (thành thị, nông thôn, miền núi), và bằng ba mũi giáp công: Chính trị, quân sự, binh vận.

Trên mặt trận quân sự, quân Giải phóng giành thắng lợi mở đầu trong trận Ấp Bắc ở Mỹ Tho vào năm 1963. Tại đây, lần đầu tiên với số quân ít hơn địch 10 lần, quân Giải phóng đánh bại cuộc hành quân càn quét của trên 2 ngàn lính ngụy do “cố vấn” Mỹ chỉ huy, được pháo binh, trực thăng, xe tăng, xe bọc thép của Mỹ yểm trợ.

Trên mặt trận “chống bình định”, giữa Việt – Mỹ, cũng như giữa quân dân địa phương và ngụy quyền cơ sở, đã diễn ra cuộc đấu tranh dai dẳng, giằng co quyết liệt giữa lập và phá Ấp chiến lược. Đến cuối năm 1964 đầu năm 1965, từng mảng lớn Ấp chiến lược đã bị quân dân địa phương phá và nhiều ấp sau đó trở thành làng chiến đấu.

Phong trào đấu tranh chính trị lên cao ở các đô thị và nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Đặc biệt ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, phong trào đấu tranh đô thị tại những thành phố lớn này đã thu hút đông đảo quần chúng, nhất là giới Phật tử, các tầng lớp học sinh, sinh viên tham gia. Các phong trào này đã góp phần quyết định làm lung lay hệ thống ngụy quyền, buộc Mỹ phải đi đến quyết định “thay ngựa giữa dòng”.


Đồng bào Sài Gòn biểu tình tại chợ Bến Thành phản đối chính sách đàn áp của chế độ Mỹ-Diệm

1. “Thay ngựa giữa dòng”

Trong một hệ thống thực dân mới, kẻ xâm lược không trực tiếp quản lý và tham chiến, mà là dựng lên, nuôi lớn, huấn luyện, trả lương, cung cấp trang bị, và ủy quyền cho các tay sai trực tiếp tham chiến và quản lý, còn người chủ kiểm soát từ bên ngoài, giám sát và đánh giá xem tay sai có làm việc hiệu quả không, tay sai có vai trò gần như một dạng CEO, giám đốc.

Và ông chủ Mỹ ngày càng chán những cách làm kém chính trị, độc đoán, quá khích, cuồng tín, những hành động trắng trợn, lộ liễu gây tai tiếng, đàn áp tôn giáo, tấn công Phật giáo và phân biệt đối xử với các tín hữu Cao Đài, Hòa Hảo (không phải lực lượng vũ trang), chủ yếu để bảo vệ lợi ích Công giáo và lợi ích gia tộc họ Ngô. Người Mỹ dần không còn kiên nhẫn với Diệm. Nhật ký Lầu Năm Góc viết: “Vô luận nó đã đóng góp như thế nào vào nền an ninh nội bộ của chính Việt Nam Cộng hòa, chiến dịch tố cộng đã làm kinh hoàng những người nông dân Việt Nam và làm cho dân chúng thêm thù ghét chế độ”.

Phóng viên Thời báo New York Neil Sheehan, trong sách “Sự lừa dối hào nhoáng” do NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh chuyển ngữ và xuất bản năm 1990, đã cho biết như sau: “Mặc dù có những niềm hy vọng của Mỹ và cố gắng viện trợ như vậy, cuộc nổi loạn ở nông thôn đã bắt đầu nổ ra lại vào năm 1957 và đặc biệt là năm 1958. Tình báo quốc gia Mỹ đoán trước: Sự bất mãn và phẫn nộ đối với chính phủ Sài Gòn có lẽ tiếp tục tăng lên và nếu những chiều hướng bất lợi này không bị ngăn chặn thì hầu như chắc chắn sẽ dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của chế độ Diệm.”“Hoa Kỳ tìm cách tiêu diệt tổ chức Việt Minh cũ và đặt cho cái tên Việt Cộng. Nhưng trong quá trình đó, Hoa Kỳ lại tạo ra một Việt Minh mới còn lợi hại hơn rất nhiều cái tổ chức Việt Minh cũ mà người Pháp đã phải đương đầu ở Việt Nam.”.

Theo Nhật ký Lầu Năm Góc mà nhân viên Bộ quốc phòng Mỹ Daniel Ellsberg giao lại cho nhà báo Neil Sheehan, bản đánh giá tình hình của sứ quán Mỹ tháng 1 năm 1960 đã nhận xét như sau: “Chúng ta có thể tóm tắt tình hình như thế này: Chính phủ đối xử với dân chúng với thái độ nghi ngờ và dọa nạt, và đã được đền đáp gằng một sự thờ ơ và lòng căm thù”. Trong một đoạn khác Nhật ký Lầu Năm Góc lại ghi: “Ngô Đình Diệm cũng không kiểm soát được dân chúng ở thành phố hoặc giới trí thức.”.

Chính nguyền Ngô Đình Diệm đã bất lực trong nhiệm vụ chống phong trào giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước được Mỹ ủy nhiệm. Ông ta quản lý theo phong cách độc tài, độc đoán và bổ nhiệm toàn người nhà với nhau nắm các chức vụ và vai trò quản lý quan trọng, do đó gây mất lòng những tay sai khác của Mỹ, họ liên tục nói xấu Diệm với người Mỹ.

Ngoài tai tiếng “gia đình trị”, chính quyền họ Ngô còn có tiếng “Công giáo trị”, phân biệt, đối xử bất công, xua đuổi, trấn áp các giáo phái, tôn giáo khác. Và khi các Phật tử và giới Phật giáo đấu tranh đòi tự do bình đẳng tín ngưỡng thì chính quyền Diệm và quân đội Sài Gòn mạnh tay đàn áp, khủng bố, bắt bớ, bỏ tù, gây ra biến cố Phật giáo năm 1963 mà giới tăng ni Phật tử gọi là một pháp nạn, vụ xả súng Phật Đản Huế, vụ tấn công hóa học, rải chất độc hóa học lên đầu các nhà sư ở Huế, cuộc tấn công chùa Xá Lợi v.v.. Bồ tát Thích Quảng Đức và nhiều tăng ni khác đã tự thiêu để phản đối các cuộc đàn áp của ngụy quyền Ngô Đình Diệm.

Thượng tọa Thích Nhất Hạnh theo góc nhìn đạo pháp, đã nói về những biến cố đó như sau:

“Báo chí gọi đó là một hành động tự tử, nhưng thực chất không phải. Ngay cả đó không phải là một hành động phản đối. Điều mà những vị sư đã viết trong những bức thư để lại trước lúc tự thiêu là nhằm cảnh tỉnh, là để chuyển đổi tâm tư của những nhà cầm quyền, và để kêu gọi thế giới quan tâm đến những nỗi thống khổ triền miên của người dân Việt Nam. Người tự thiêu là để chứng tỏ rằng nguyện vọng mà ông đề cập là rất tối ư quan trọng…. Tu sĩ Việt Nam tự thiêu nói lên với tất cả sức mạnh và quyết chí rằng tôi có thể chịu đựng sự khổ đau cùng cực nhất để bảo vệ cho đồng bào của tôi…. Để bày tỏ ước vọng bằng cách tự thiêu của một người, vì thế, không phải là một hành động hủy diệt mà là một hành động tạo dựng, đó là, để đau khổ và để chết cho người khác. Như thế, tự thiêu không phải là một hành động tự tử.”

Thầy Nhất Hạnh đi xa hơn để giải thích tại sao sự tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức không phải là một cuộc tự tử, tự tử là trái với lời dạy của Đức Phật:

“Tự tử là một hành động tự hủy do những nguyên nhân sau đây: 1) Thiếu ý chí để sống và gặp những khó khăn; 2) Thất bại trong cuộc sống và tuyệt vọng; 3) Không muốn sống…Vị tu sĩ tự thiêu (Thích Quảng Đức) không mất nghị lực, không thiếu hy vọng; cũng như không phải không muốn sống. Trái lại, ngài có đầy nghị lực, tràn hy vọng và mong ước một cái gì tốt cho tương lai. Ngài không có ý nghĩ tự hủy; nhưng tin vào những hoa trái tốt từ sự tự hy hiến đời mình cho kẻ khác… Tôi tin chắc rằng tất cả các vị sư tự thiêu không muốn những người cai trị chết, nhưng chỉ nhằm thay đổi chính sách của họ. Kẻ thù của chúng ta không phải là con người. Kẻ thù của chúng ta là sự thiếu khoan dung, cuồng tín, độc tài, tham đắm, hận thù và kỳ thị, chúng đang nằm sẵn trong tâm của con người.”

Hòa thượng Thích Quảng Đức cùng sáu người khác là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu, Đại đức Thích Thanh Tuệ, Đại đức Thích Thiện Mỹ, Đại đức Thích Nguyên Hương, sư cô Thích Nữ Diệu Quang và phật tử Đặng Thị Ngọc Tuyền…. đều đã tự thiêu để phản đối chiến tranh, phản đối tội ác, phản đối ngụy quyền và các chính sách, hành động đàn áp Phật giáo của họ.

Sau nhiều cuộc tự thiêu đó, ngụy quyền Ngô Đình Diệm bối rối vu khống “nhiếp ảnh gia Browne đã hối lộ các nhà sư Phật giáo để giết một nhà sư đồng nghiệp”. Bà Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu, em dâu Ngô Đình Diệm) nói thêm những câu vô cảm đổ dầu vào lửa mà các báo chí quốc tế đã ghi nhận:

“Tất cả những việc mà Phật giáo đóng góp cho đất nước từ trước đến nay không có gì ngoài việc thiêu sống một nhà sư….”

“Ông Thích Quảng Đức bị chích thuốc và bị cưỡng bức thiêu sống.”

“Tôi sẽ vỗ tay khi thấy thêm một cuộc trình diễn thịt nướng, một người không thể chịu trách nhiệm cho sự khùng điên của những người khác.”

“Cứ để họ bị đốt đi và chúng tôi sẽ vỗ tay.”

Về sau bà Nhu đã tìm cách nói chữa, khỏa lấp hoặc biện minh các phát biểu vô trách nhiệm này. Ngày 15 tháng 8 một nhà sư khác tự thiêu ở Huế, ba ngày sau đó sư cô Diệu Quang tự thiêu ở Khánh Hòa. Sau bi kịch đó, bà Nhu lại nói: “Nếu Phật giáo muốn có một vụ nướng thịt khác thì tôi rất vui lòng cung cấp xăng.”

Thời điểm đó nhân dân các quốc gia Á – Phi cùng nhau xuống đường liên tục biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam với các biểu ngữ lớn: “Một tăng sĩ Phật giáo hy sinh thân mạng để chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ-Diệm.” Ngoài ra vụ thảm sát đầu độc giết hại hàng ngàn tù chính trị ở nhà tù Phú Lợi, tuy không liên quan đến vấn đề tôn giáo, nhưng cũng gây chấn động và làm nóng dư luận thêm hơn. Ngụy quyền nhà họ Ngô bị chống ở Việt Nam và khắp thế giới, họ bị chống bởi cả những tay sai khác của Mỹ.

Trước tình hình đó, Mỹ đành quyết định “thay ngựa giữa dòng” để vãn hồi sự ổn định chính trị trong vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam. Và cũng là để bảo vệ “uy tín”, hình ảnh, “thương hiệu”, danh dự nước lớn của họ.

Hồ sơ Lầu Năm Góc (The Pentagon Papers – Tên gốc là United States – Vietnam Relations, 1945-1967: A Study Prepared by the Department of Defense, tạm dịch: Quan hệ Mỹ – Việt, 1945-1967: Một nghiên cứu được chuẩn bị bởi Bộ quốc phòng), do chuyên viên phân tích quân sự của Bộ quốc phòng Mỹ và Lầu Năm Góc, sĩ quan Daniel Ellsberg giao cho nhà báo Thời báo New York Neil Sheehan có những đoạn như sau:

“Sự bất mãn với chế độ Diệm đã trở thành cấp bách trong tháng 8 năm 1963. Nhà nước (Hoa Kỳ) ngày 8/21/1963 đã ghi nhận rõ vấn đề này là nghiêm trọng. Chính phủ của Diệm đã xông vào ngôi chùa Phật giáo vào ngày hôm đó. Các vấn đề chưa được giải quyết giữa chính phủ và các nhà sư Phật giáo đã tiếp tục kể từ mùa xuân năm 1963, khi một số tu sĩ, trong đó có Quảng Đức, tự thiêu. Bà Nhu, em dâu của tổng thống, đã nói một cách khinh miệt rằng các nhà sư là “thịt nướng của Phật giáo” và hứa cung cấp thêm xăng. Các hành động đàn áp trong tháng 8 đã cho thấy rằng ‘Diệm phải đi’.”

“Tổng thống Kennedy đã nhận được một cuộc họp báo về ngày 27 tháng 8 năm 1963. William Colby, một trong các chuyên gia CIA về Việt Nam, trong một cuộc báo cáo liên quan của 2 vị tướng Việt Nam Cộng hòa ngày hôm trước. Họ đã báo cáo: ‘Tình hình cho một cuộc đảo chính là thuận lợi và dự báo nó sẽ kéo dài một tuần.’”

“Trong cuộc họp này, Đại sứ Nolting quan sát thấy rằng ‘các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa không có lá gan của Diệm hay Nhu’.”

“Hai ngày sau đó, tổng thống (John F. Kennedy) đã gởi một tin nhắn đến Henry Cabot Lodge, Jr, đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam. Tin nhắn đã cho thấy rõ ràng rằng John F. Kennedy đồng ý kế hoạch của các tướng Việt Nam Cộng hòa nhưng bảo lưu quyền, với thẩm quyền của một Tổng tư lệnh, để thay đổi quyết định vào phút cuối cùng.”

“Một bản lưu của CIA cho biết đã cố vấn cho nhóm Trần Kim Tuyến cố gắng ám sát Nhu vào ngày 13/9/1963, nhưng đã “thất bại khi các ngòi nổ bị hỏng”. Mặc dù vậy, nhóm đã tự tin “cuộc đảo chính cuối cùng sẽ thành công”. Mục tiêu, trong số những người khác, là ‘nhà Ngô’.”

Theo bản báo cáo 1034 từ Sài Gòn gởi đến Washington vào ngày 19/9/1963, nằm trong các hồ sơ Lầu Năm Góc được giải mật và lưu trữ trong cơ quan NARA của chính phủ Hoa Kỳ, thì:

“Một báo cáo của CIA, chuẩn bị cho tổng thống (Hoa Kỳ) vào ngày 19/9/1963, chỉ ra rằng quân đội và tình báo người Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã chia rẽ quan điểm về vấn đề có nên đảo chính hay không. Trang thứ hai của bản ghi còn cho biết: “Nhóm CIA ủng hộ cuộc đảo chính quan tâm nhất đến việc đưa lên một chính phủ mà họ có thể điều khiển, điều đó hợp lý hóa những khoản tiền khổng lồ mà họ đã bỏ ra.”

Nữ phóng viên chiến trường Beverly Deepe Keever, trong hồi ký Death Zones and Darling Spies, seven years of Vietnam War reporting (Tử địa và các điệp viên đáng yêu, bảy năm làm phóng sự về Chiến tranh Việt Nam), Đại học Nebraska mới xuất bản năm 2013, đã cho biết: “Khi Lodge (Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge, Jr) đến sân bay Tân Sơn Nhứt, tôi đã cảm nhận thấy ông ta đã quyết định rằng ‘Diệm phải đi’.”

Tuần báo Newsweek số ra ngày 24/12/2001, trong bài viết về ảnh hưởng của CIA đối với các nhà lãnh đạo trên thế giới, tác giả khi nhắc đến cái chết của Ngô Đình Diệm, đã viết một câu bên cạnh bức hình sau:

Có thể hiểu câu tiếng Anh nói trên như sau: Năm 1963, chính phủ Kennedy đã nhận thấy sự tồn tại của “tổng thống Nam Việt Nam” Ngô Đình Diệm là có lợi cho cộng sản và đã quyết định “Diệm phải đi”. CIA đã thực hiện cuộc ám sát kết quả đưa đến cái chết của ông ta vào tháng 11 năm 1963.

Đại tá Leroy Fletcher Prouty trong sách The secret team: The CIA and its allies in control of the United States and the world (Đội ngũ bí mật: CIA và các đồng minh kiểm soát Hoa Kỳ và thế giới) do Prentice-Hall xuất bản năm 1973 đã cho biết điệp viên CIA, trung tá Lucien Conein đã gặp và trả công tận tay 40.000 USD cho binh lính Sài Gòn đảo chính lật đổ chính quyền Diệm.

Cựu quân nhân Chiến tranh Việt Nam, Bruce O. Solheim, giáo sư sử học ở Đại học Citrus, trong sách Vietnam War Era: A Personal Journey (Thời kỳ Chiến tranh Việt Nam: Một hành trình riêng), do Đại học Nebraska xuất bản năm 2008, đã cho biết: “Với tầm nhìn ngắn, chính phủ John F. Kennedy đã phê duyệt cuộc đảo chính và giết Diệm và Nhu, sự kiện này đưa đến một khoảng trống lãnh đạo ở Nam Việt Nam mà hầu như chưa bao giờ được bù đắp. Người Mỹ đã bước vào và tạo ra một chính quyền con rối lệ thuộc.”

Sau khi Mỹ “thay ngựa giữa dòng” và thử nghiệm đưa lên một loạt các nhân tuyển khác nhau và dừng ở cặp bài trùng Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ, quân Giải phóng đã mở chiến dịch tiến công ở miền Đông Nam Bộ, đánh thắng trận Bình Giã, về cơ bản đã làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.

Đến đây, kế hoạch Staley-Taylor đã không còn hiệu quả. Giới cầm quyền Mỹ bắt đầu đề ra và thực hiện một số quyết định chiến lược mới. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, khi Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đổ quân xuống Đà Nẵng, kế hoạch Staley-Taylor và chiến lược chiến tranh đặc biệt chính thức chấm dứt. Chiến tranh Mỹ – Việt bước sang giai đoạn mới, giai đoạn Mỹ kéo đại quân đến Việt Nam trực tiếp xâm lược, thực hiện chiến lược tác chiến Tìm và Diệt và chiến lược chiến tranh cục bộ.


“Cố vấn” Mỹ và lính ngụy đang dừng chân nghỉ giải lao. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, các “cố vấn” Mỹ thực tế không có vai trò của một người cố vấn, tham vấn, tư vấn, mưu sĩ, mà là vai trò của một người chỉ huy về quân sự và cả chính trị (như chính trị viên của VN). “Cố vấn” Mỹ có mặt ở cấp tiểu đoàn ngụy, trong chiến tranh đặc biệt có mặt ở tận cấp đại đội, để chỉ huy, giám sát và kiểm soát.

 

Chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1965-1968)

Chiến tranh cục bộ có nghĩa đây không còn là chiến tranh “đặc biệt” nữa, mà nó đã bùng nổ và chuyển hóa thành một cuộc chiến tranh rộng lớn và toàn diện, không khác một cuộc chiến tranh quy ước có tuyên bố.

Trước đây nó là chiến tranh đặc biệt vì Mỹ đánh mà như không đánh, thay vào đó là tiến hành chiến tranh bằng hình thức chỉ huy Mỹ – thực binh ngụy. Còn lúc này Mỹ đã kéo đại quân vào trực tiếp đánh Việt Nam, và cuộc chiến này đã không còn là “đặc biệt” nữa mà nó đã là một cuộc chiến “chính thức”.

Còn “cục bộ” là ý nói cuộc chiến trong phạm vi bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á này là một bộ phận thuộc chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ.


Trực thăng Mỹ trên bầu trời Việt Nam.

Theo quan điểm của Việt Nam, các hoạt động thực tế của chiến lược chiến tranh cục bộ là từ năm 1965 đến 1968, lấy dấu mốc năm 1965 khi đại quân Mỹ bắt đầu tràn ngập lãnh thổ Việt Nam và trực tiếp tiến hành chiến tranh, trực tiếp tấn công và trực tiếp thực hiện các chiến dịch và chiến thuật quân sự. Mốc thời gian kết thúc của nó là sau cuộc tổng tiến công và khởi nghĩa xuân Mậu Thân 1968, khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang diễn ra, và nhất là từ khi Mỹ bắt đầu chính thức thực hiện chiến lược Phi Mỹ hóa – Việt Nam hóa chiến tranh từ năm 1968. Các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam trong nước dựa trên các cơ sở đó để nhận định giai đoạn chiến tranh cục bộ là từ năm 1965 đến 1968.

Theo quan điểm của Hoa Kỳ, giai đoạn chiến tranh cục bộ (joint warfare) là từ năm 1963 đến 1969, lấy dấu mốc năm 1963 khi Mỹ giật dây lật Diệm, thay thế các nhân sự trong ngụy quyền. Mốc thời gian kết thúc của nó là sau khi tổng thống Richard Nixon chính thức nhậm chức từ đầu năm 1969. Tổng thống Nixon cũng là một trong các nhân vật chính đề ra Học thuyết Nixon và chiến lược Phi Mỹ hóa chiến tranh. Một số nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Hoa Kỳ cho rằng giai đoạn chiến tranh cục bộ là từ năm 1963 đến 1969 là xuất phát từ cơ sở đó.


Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson duyệt binh cùng đại tướng William Westmoreland, Tổng tư lệnh liên quân trên chiến trường Việt Nam (1966).


Tướng William Westmoreland, kiến trúc sư của chiến lược Tìm và Diệt, nói chuyện với binh lính gần Biên Hòa (1965).

Năm 1965, trước nguy cơ phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt, Mỹ ồ ạt đem đại quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam nhằm đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Trong năm 1965, các sư đoàn 1 Bộ binh (được biết nhiều với tên “Anh cả đỏ” – The Big Red One), sư đoàn 1 Kỵ binh Không vận, Lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 101 Kỵ binh Không vận, Lữ đoàn 3, sư đoàn 25 Bộ binh (được biết nhiều với tên “Tia chớp nhiệt đới” – Tropical Light), trung đoàn 11 Kỵ binh Thiết giáp v.v. kéo vào miền Nam Việt Nam. Trong đó sư đoàn Anh cả đỏ và Tia chớp nhiệt đới là hai trong những sư đoàn chủ lực thiện chiến nhất thế giới.

Hạm đội 7, hạm đội mạnh nhất của Hải quân Hoa Kỳ, được mệnh danh “chúa tể đại dương”, tiến vào Biển Đông, xâm phạm vùng biển của Việt Nam, để trợ lực cho các lực lượng xâm lược trên bộ. Hàng vạn lính Mỹ đóng ở Thái Lan, Philippines, Nhật Bản, đảo Guam thuộc Mỹ…. đều được sử dụng để hỗ trợ cho chiến trường Việt Nam.

Đại tướng William Westmoreland trong hồi ký A Soldier Reports (Tường trình của một quân nhân), do Doubleday xuất bản năm 1976, đã cho biết: “Tôi tin rằng nước Mỹ chưa bao giờ cho ra trận một lực lượng nào thiện chiến hơn lực lượng ở Việt Nam trong những năm 1966-1969”.

Hoa Kỳ còn áp lực được các quốc gia chư hầu (vassal state) khi đó như Hàn Quốc, Philippines, hay đồng minh, đàn em như Australia, Thái Lan và New Zealand gởi quân đội đánh thuê cho Mỹ ở miền Nam Việt Nam, đổi chác các lợi ích chính trị, quân sự, kinh tế. Lực lượng viễn chinh Mỹ cũng phát triển nhanh, đến cuối năm 1965 nó đã lên gần 20 vạn quân.


Khoảng 12 ngàn lính Thủy quân Lục chiến Mỹ tụ tập xem văn nghệ Noel ở Đà Nẵng (19/12/1967)

Theo hồ sơ Lầu Năm Góc (Pentagon Papers) do Daniel Ellsberg tung ra và Thời báo New York công bố của Bộ Quốc phòng Mỹ về Chiến tranh Việt Nam, được Việt Nam Thông Tấn Xã ấn hành một phần bằng tiếng Việt vào năm 1971 (Mỹ chính thức giải mật vào tháng 6 năm 2011), và nhà báo Pháp Giuglaris Marcel, một nhà nghiên cứu chuyên sâu về Nhật Bản và vùng Viễn Đông, trong sách Việt Nam, le jour de l’escalade (Việt Nam, ngày đầu leo thang) do NRF xuất bản, thì Vecler, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân bảo đảm với Tổng thống và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara: “Không có lý do gì chúng ta lại không thể thắng nếu đó là quyết tâm của chúng ta”. Và những nhân vật diều hâu trong giới cầm quyền Mỹ tin tưởng tuyệt đối rằng: “Cùng lắm trong vòng 18 tháng (cuối 1966), Mỹ sẽ chiến thắng, lúc đó Việt Cộng và Hà Nội sẽ phải chịu thua, chấm dứt kháng chiến. Và, trên bình diện thế giới, chúng ta sẽ chứng minh được cho các dân tộc thấy rằng chiến tranh cách mạng không đem lại kết quả gì, cuộc nổi dậy nào cũng có thể bị tiêu diệt”.

Mỹ dù không muốn trực tiếp ra tay, nhưng trước tình thế bất lợi họ buộc phải xuất quân để ngăn chặn thế thua, từng bước phản công giành lại quyền chủ động và muốn chuyển bại thành thắng. Việc đưa quân viễn chinh Mỹ vào chiến đấu trên quy mô lớn là không chỉ giới hạn ở việc cứu nguy sự sụp đổ của chế độ thuộc địa kiểu mới mà chính là để giành thắng lợi quyết định, nhanh chóng đảo lộn thế cờ. Theo đó, Mỹ đề ra kế hoạch 3 giai đoạn và dự định giành thắng lợi trong vòng hai năm rưỡi:

  • Giai đoạn 1: Chặn lại đà thất bại, triển khai nhanh lực lượng.
  • Giai đoạn 2: Phản công chiến lược, tấn công mạnh vào chủ lực quân Giải phóng, và cướp lại vùng nông thôn.
  • Giai đoạn 3: Hoàn toàn tiêu diệt chủ lực quân Giải phóng, phá hoại căn cứ và hậu cần, tiếp tục bình định miền Nam.

Trước ý đồ chiến lược mới của Mỹ, Bộ chính trị, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích, đánh giá tình hình và thảo luận tìm đối sách, sau đó đưa ra nhận định, đại ý:

Hiện nay ngụy quân đã thất bại trên chiến trường, ngụy quyền rệu rã, chiến tranh đặc biệt đã thất bại, đế quốc Mỹ mất thế chủ động chiến lược, trong khi đó lực lượng ta đang nắm quyền chủ động chiến trường, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, liên hoàn ở cả ba vùng chiến lược (nông thôn, đô thị, miền núi). Chiến tranh càng mở rộng và kéo dài, thì mâu thuẫn càng bộc lộ và bị khoét sâu mà Nhà Trắng và Lầu Năm Góc không thể nào khắc phục được. Tiêu biểu là:

  • Mâu thuẫn trầm trọng về tư tưởng chiến lược giữa mục đích muốn giấu mặt áp đặt chủ nghĩa thực dân mới (nghĩa là đứng ngoài làm chủ, bản thân không trực tiếp quản lý, chỉ huy và tham chiến), nhưng lại buộc phải tiến hành chiến tranh bằng đại quân viễn chinh Mỹ theo kiểu chủ nghĩa thực dân cũ (vì ngụy quân không biết đánh, nếu không đem quân vào đánh thì sẽ thua). Như vậy đây là một thất sách về chính trị và làm cho dư luận thế giới thấy rõ như ban ngày là Mỹ đã kéo đại binh vào tấn công Việt Nam, trực tiếp điều hành và tiến hành chiến tranh.
  • Mâu thuẫn giữa tiến hành chiến tranh xâm lược nhưng lại phải xây dựng cho được chính quyền và quân đội bản xứ để làm công cụ của Mỹ nhằm áp đặt chủ nghĩa thực dân mới. Trước đó, Mỹ chỉ lo mỗi việc là xây dựng, huấn luyện, trang bị, phát triển ngụy quân và ngụy quyền, và việc này đã rất khó khăn. Trong khi bây giờ chính phủ Washington phải thực hiện cả hai mục tiêu chiến lược này cùng một lúc, khó càng thêm khó.
  • Mâu thuẫn khi buộc phải tiến hành chiến tranh để giữ vững và củng cố chế độ ngụy quyền và hệ thống thuộc địa kiểu mới. Trong khi đó thực tế chiến cuộc cho thấy Mỹ càng tiến hành chiến tranh thì ngụy quyền và ngụy quân càng dựa dẫm vào Mỹ hơn, không còn bao nhiêu động lực chiến đấu, và càng lục đục, chia rẽ khi tranh nhau sự ưu ái của Mỹ. Còn hệ thống thuộc địa kiểu mới thì càng suy yếu và ngày càng hiện rõ những dấu hiệu của một thuộc địa kiểu cũ (người Mỹ và lính Mỹ tràn ngập miền Nam, Mỹ nắm thực quyền về quản lý, chỉ huy, trực tiếp tiến hành chiến tranh). Những thực trạng đó đồng thời cũng kéo theo sự suy yếu của chính Mỹ.Từ đó, phương châm đấu tranh của Việt Nam được đề ra là: Đẩy mạnh đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công chiến lược: Quân sự – chính trị – ngoại giao.Ngày 20/7/1965, chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi:

    “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

    Nói chuyện với cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định và tiên đoán:

    “Bây giờ Mỹ có 20 vạn quân ở miền Nam, nó có thể đưa thêm vào hơn nữa đến 30, 40, 50 vạn quân. Ta vẫn thắng, nhất định ta thắng. Ta nói như thế không phải để tuyên truyền, mà căn bản là như thế.”


    Nam nữ du kích xã Vĩnh Hưng, Sóc Trăng luyện tập mã tấu dựa trên bài “Song Dao Pháp” của dòng võ Tân Khánh Bà Trà (1960).


    Nam nữ du kích Sóc Trăng tập bắn súng.

    Trong Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang Quân Giải phóng miền Nam lần thứ nhất ở Tây Ninh từ ngày 2 đến ngày 6/5/1965, quân dân Tây Ninh và miền Nam đều có vẻ lo lắng, nghĩ rằng hồi trước đánh ngụy có chỉ huy Mỹ thì còn đánh dễ, nhưng bây giờ Mỹ đã đem hơn 20 vạn quân vào trực tiếp đánh chiếm những vùng giải phóng, trong khi Mỹ là một đại cường quốc, là siêu cường mạnh nhất hành tinh. Mọi người lo lắng hỏi nhau cách đánh Mỹ.

    Khi đó Đại tướng Nguyễn Chí Thanh liền nhận định và trấn an, đại ý: Chưa đánh thì làm sao biết cách đánh thắng. Cứ bám thắt lưng địch mà đánh. Cứ đánh Mỹ đi rồi sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ.


    Một trung úy Mỹ bị sập bẫy chông của quân Giải phóng (1966)

    Tự tin vào ưu thế quân đông (hơn 20 vạn quân), thiện chiến, vũ khí tối tân, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh, Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn chinh tiến hành ngay chiến lược tác chiến Tìm và Diệt của Tổng tư lệnh Liên quân, đại tướng William Westmoreland, với cuộc hành quân “Ánh sao sáng” vào căn cứ cách mạng ở Vạn Tường – Quảng Ngãi. Tiếp đó Mỹ mở liền hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 bằng nhiều cuộc hành quân vào “đất thánh Việt Cộng” như chiến khu Đ, chiến khu C (chiến khu Dương Minh Châu), và các chiến khu, địa điểm khác.

    Nhưng nhờ chiến đấu dũng cảm, thông thạo địa hình (đó chính là quê nhà của họ), và tài mưu trí sáng tạo, cũng như được sự phối hợp chiến đấu và tiếp viện ngày càng lớn từ miền Bắc, quân dân miền Nam đã chiến đấu giành thắng lợi mở đầu ở Vạn Tường (ngày 18/8/1965). Sau một ngày chiến đấu, một trung đoàn chủ lực quân Giải phóng lúc đó đang đóng ở Vạn Tường, cùng với du kích xã và quân dân địa phương đã đẩy lùi cuộc hành quân của giặc Mỹ, diệt gần 1 ngàn lính, bắn cháy 22 xe tăng và xe bọc thép, hạ 13 máy bay.


    Ảnh minh họa: Quân đội Mỹ tấn công khu vực Tam Giác Sắt trong chiến dịch Attleboro (1966)

    Năm 1966, Bộ tư lệnh Lực lượng Dã chiến 2 của Mỹ huy động 19 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 1, lữ đoàn 173 nhảy dù, 2 lữ đoàn của sư đoàn 4 và sư đoàn 25, và 1 chiến đoàn đặc nhiệm trực thuộc quân đoàn 3 ngụy, mở chiến dịch Attleboro đánh vào khu vực Tam Giác Sắt mà họ thường gọi là một trong những “đất thánh Việt Cộng” hoặc “đất thánh cộng sản”, với trọng điểm là chiến khu Dương Minh Châu (chiến khu C), một trong những đầu não của cách mạng miền Nam.

    Tam Giác Sắt là một khu vực rộng 155 km² nằm giữa sông Sài Gòn và đường 13, khoảng 40 km phía bắc trung tâm Sài Gòn, bao gồm địa đạo Củ Chi và hệ thống mật khu vòng đai kiên cố như Hố Bò, Bời Lời, Long Nguyên…. Về lực lượng Việt Nam tham chiến chống Mỹ trong chiến dịch này, theo các nguồn của Mỹ là bao gồm các trung đoàn 101, 271, 272 và 273.


    Binh lính Mỹ truy lùng nơi trú ẩn của quân Giải phóng trong một khu rừng chỉ cách 40 cây số phía đông bắc Sài Gòn (1965)

    Quân đội Mỹ-ngụy trong chiến dịch này đặt dưới quyền chỉ huy của hai tướng Guy S. Meloy, Jr. và William E. DePuy, là hai tướng dày dặn kinh nghiệm chiến trường trong Thế chiến II. Mục tiêu chính của cuộc hành quân là diệt bộ phận đầu não quân sự và chính trị của Trung ương cục miền Nam.

    Sau hơn hai tháng giằng co, giao chiến ác liệt, lực lượng Việt Nam bị tổn thất khá nặng và bị đẩy lùi ra khỏi trận địa. Sau trận này, lực lượng Việt Nam đã rút lui về bên kia biên giới Việt Nam – Campuchia.


    Quân Mỹ hành quân trên sông Mỹ Tho, một nhánh của đồng bằng sông Cửu Long, chỉ cách phía tây nam Sài Gòn 35 cây số (1968).


    Tàu tuần tra Mỹ càn quét vùng sông ngòi nông thôn

    Mặc dù bị tổn thất, bị đẩy lui và thua về chiến thuật, nhưng ban chỉ huy đầu não của Mặt Trận đã kịp thời rút về bên kia biên giới Campuchia, tránh được tổn thất. Như vậy Mỹ không đạt được mục tiêu đề ra, do đó trong chiến dịch này họ chỉ giành thắng lợi chiến thuật nhưng không giành được thắng lợi chiến lược và thắng lợi quyết định.

    Một trong những mục tiêu chính khác của Mỹ trong chiến dịch này là tìm cách kéo được quân Giải phóng ra đánh một trận lớn để gây tổn thương nguyên khí thật nặng, nhưng ý đồ đó của họ đã bị phía Việt Nam nhận ra nên đã tận dụng sự thông thạo địa hình mà tác chiến linh hoạt theo chiến tranh du kích, tránh đánh lớn, và khiến cho ý đồ đó bất thành.


    Ảnh minh họa: Quân đội Hoa Kỳ tấn công khu vực Tam Giác Sắt trong chiến dịch Cedar Falls (1967)

    Năm 1967, Mỹ-ngụy mở chiến dịch Cedar Falls, kéo gần 3 vạn quân tiếp tục đánh vào cái gai trong mắt lâu ngày khó nhổ của họ: Khu vực Tam Giác Sắt. Lần này quân Giải phóng đổi chiến lược, phân tán rút vào rừng và ẩn thân trong hệ thống địa đạo. Trong chiến dịch này, “lính chuột cống” (Tunnel Rat) được sử dụng lần đầu tiên để xâm nhập hầm trú ẩn và hệ thống công sự ngầm của quân Giải phóng.

    Sau gần 1 tháng giằng co, mặc dù đã phá hủy nhiều đoạn công sự của Việt Nam, nhưng mục tiêu Hoa Kỳ đặt ra về cơ bản đã không đạt được. Trong khi đó, việc bảo vệ an toàn phần lớn căn cứ có thể coi là một thắng lợi chiến lược của cách mạng Việt Nam. Nhờ vào hệ thống địa đạo có quy mô rộng lớn và tổ chức tinh vi, người Việt Nam không cần mất nhiều công sức để bày binh bố trận hay tổ chức những trận đánh lớn đầy rủi ro, mà phía Mỹ vẫn phải rút quân, vì không rút quân thì cũng chết dần mòn mà không làm gì được.

    Trước chiến dịch này còn có một cuộc hành quân khác của quân đội Mỹ nhằm vào vùng Củ Chi cũng với các mục tiêu quân sự tương tự và đã chịu thất bại theo cách tương tự, đó là chiến dịch Crimp năm 1966.

    Nói chung, qua nhiều chiến dịch và trận đánh, hai phía đối địch đều có thắng, có bại và trong nhiều trận cả hai bên đều tổn thất nặng. Nhưng về cơ bản Việt Nam đã giành chiến thắng quan trọng trước hai cuộc tấn công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ. Quân Việt đã chặn đứng và đánh lui hàng loạt cuộc hành quân bình định, Tìm và Diệt của Mỹ vào những khu vực họ gọi là “đất thánh Việt Cộng” (những vùng giải phóng ở Tây Ninh, Long An, Bình Dương, Củ Chi).


    Quân Giải phóng miền Nam tiến công (1967)

    Về chính trị, ở hầu khắp các vùng nông thôn, nông dân được sự hỗ trợ của các lực lượng vũ trang, đã vùng lên đấu tranh chống kìm kẹp, phá Ấp chiến lược. Trong hầu hết các thành phố ở miền Nam, công nhân, học sinh, sinh viên, Phật tử đều đấu tranh đòi Mỹ rút về nước, bất chấp bị đàn áp liên tục bằng dùi cui, roi điện, hơi độc, súng đạn.

    Vào ngày Phật Đản thứ 2511, 8 tháng 4 âm lịch năm Đinh Mùi (16 tháng 5 năm 1967 dương lịch), nữ sĩ Nhất Chi Mai, tên thật Phan Thị Mai, tự Nhất Chi, pháp danh Thích nữ Diệu Huỳnh, là một nữ Phật tử đã noi gương Bồ tát Thích Quảng Đức, tự thiêu ở Sài Gòn để phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam, bà đã tự thiêu trước sân chùa Tư Nghiêm (nay thuộc Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Trước khi tự thiêu, bà đã để lại 10 bức di thư với nội dung kêu gọi hòa bình và chấm dứt chiến tranh, trong đó có bài:

    Chấp tay tôi quỳ xuống
    Sao người Mỹ tự thiêu?
    Sao thế giới biểu tình?
    Sao Việt Nam im tiếng?
    Không dám nói Hòa Bình?
    Tôi thấy mình hèn yếu!
    Tôi nghe lòng đắng cay!
    Sống mình không thể nói
    Chết mới được ra lời!
    Hòa bình là có tội!
    Hòa Bình là Cộng sản!
    Tôi vì lòng nhân bản,
    Mà muốn nói Hòa Bình.
    Chấp tay tôi quỳ xuống
    Chịu đau đớn thân này
    Mong thoát lời thống thiết!
    Dừng tay lại người ơi!
    Dừng tay lại người ơi!
    Hai chục năm hơn rồi,
    Nhiều máu xương đã đổ,
    Đừng diệt chủng dân tôi!
    Đừng diệt chủng dân tôi!
    Chấp tay tôi quỳ xuống.

    Sau này bút danh Nhất Chi Mai của bà đã được đặt cho một con đường nằm ở quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

    Sau bao nhiêu tổn thất, đau thương trong các chiến dịch quân sự kết hợp với phong trào đấu tranh nông thôn và đấu tranh đô thị, kết quả là giặc xâm lược đã từng bước thất bại trong chiến lược chiến tranh cục bộ, thêm nhiều khu vực, địa điểm ở miền Nam được giải phóng.

    Uy tín của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế. Đến cuối năm 1967, cương lĩnh của Mặt Trận được 41 nước, 12 tổ chức quốc tế và 5 tổ chức có tính chất khu vực lên tiếng chính thức ủng hộ.

    Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Robert McNamara trước đây đã từng ủng hộ chính sách của tổng thống Lyndon B. Johnson đối với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì nay cũng tỏ ra chán nản và nghi ngờ kết quả của chính sách leo thang của Mỹ ở Việt Nam. Tình hình miền Nam lúc đó như McNamara đánh giá là: “Một bức tranh ảm đạm, đau đớn đến tột cùng. Nhưng khi đó, tôi không thấy cách gì tốt hơn”.“Các chính sách và chương trình của Mỹ ở Đông Dương đã phát triển theo một hướng mà chúng ta đã không lường trước được…. và sự thiệt hại về người, chính trị, xã hội và kinh tế là không thể tưởng tượng được. Chúng ta đã thất bại”.


    Binh nhất Benjamin Reynolds và binh nhất Robert M. Baker thuộc sư đoàn 4 Bộ binh nâng cao quốc kỳ Hoa Kỳ trên đồi 927 tại Đắc Tô (1967).

 

1. Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân

Cuộc tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân là một chiến dịch quân sự rộng lớn được phát triển từ Kế hoạch X, vốn đã được khởi động từ cuối giai đoạn chiến tranh đặc biệt. Kế hoạch X là một kế hoạch tuyệt mật. Sau này theo các thông tin tiết lộ ra từ một số tướng lĩnh trên phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của hãng phim Bản Sắc Việt và Đài truyền hình Việt Nam, và một số phim tài liệu cũng như nguồn khác, thì Kế hoạch X nói chung là một kế hoạch đột kích bất ngờ, một cách đánh mới để làm thay đổi tình hình và cục diện chiến tranh, mà đích nhắm chủ yếu là ở ngay trung tâm đầu não của giặc.


Bí thư thứ nhất Lê Duẩn và chủ tịch Hồ Chí Minh (Hà Nội, 1966)

Sau khi Mỹ đã kéo đại quân vào trực tiếp tấn công Việt Nam, tinh binh Mỹ lên tới gần 60 vạn, tổng số quân (bao gồm ngụy và chư hầu) là hơn 1 triệu, Bộ chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp và bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã xác định rằng không thể giành thắng lợi quyết định bằng những cách đánh thông thường, Bộ chính trị cho rằng phải tìm cách đánh khác để đập tan ý chí tiếp tục chiến tranh của Mỹ, làm cho Mỹ hiểu rằng không thể thắng được Việt Nam bằng vũ khí và bom đạn.

Tuy nhiên so sánh tương quan quân đội Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ về quân số và vũ khí đều thua kém gấp nhiều lần, nên việc đánh để tiêu diệt quân đội Mỹ là điều gần như không thể thực hiện. Do đó Bộ chính trị chủ trương: “Phải tìm cách đánh mới khác cách đánh truyền thống là đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ bằng phương pháp tổng tiến công đồng loạt đánh vào các trung tâm đầu não chính trị, quân sự ở các thành phố, thị xã. Tiến công vào các thành phố, thị xã sẽ tạo ra bất ngờ lớn đối với địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, làm rung chuyển nước Mỹ.

Như vậy, có thể thấy mục tiêu chiến lược của Việt Nam là đánh vào ý chí xâm lược của Mỹ. Đại tá Vũ Ba, nguyên cán bộ tham mưu Miền, trong phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của nữ đạo diễn Lê Phong Lan, phát sóng trên Đài truyền hình Việt Nam năm 2012-2013, đã cho biết thêm về vấn đề chọn đúng thời điểm để đánh: “Thời cơ lịch sử có thể xảy ra trước hoặc sau năm 1968. Nhưng chắc chắn nó phải rơi vào đúng thời điểm sức mạnh và quân số Mỹ có mặt ở miền Nam lên đến đỉnh điểm nhưng họ không thể giành được thắng lợi quyết định. Và thời điểm đó chính là Mậu Thân 1968. Lúc đó, tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật của Mỹ gấp 800 lần Việt Nam.”

Trong khoảng thời gian này, sức khỏe của chủ tịch Hồ Chí Minh sa sút, nên phải gác lại công việc và đi Trung Quốc chữa bệnh. Tuy nhiên với bề dày kinh nghiệm, uy tín to lớn trong Đảng và nhân dân, mọi quyết sách lớn vẫn phải được phê duyệt bởi Hồ chủ tịch. Do đó, chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một chuyến về nước ngắn để nghe Quân ủy Trung ương trình bày kế hoạch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý những điểm sau:

  • Dự thảo báo cáo tốt, toàn diện, nhưng cần xem báo cáo của Quân ủy có chủ quan không.
  • Tranh thủ giành thắng lợi sớm, nhưng phải chú ý đánh lâu dài.
  • Thuận lợi có nhiều nhưng phải thấy những khó khăn như mặt hậu cần bảo đảm.
  • Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ý đến việc giữ sức dân.
  • Phải chú ý mở rộng chiến tranh du kích, tăng cường trang bị cho du kích.
  • Phải làm sao ta càng đánh càng mạnh, đánh liên tục, đánh được lâu dài (nghĩa là có khả năng thực hiện một cuộc chiến tranh lâu dài).

Chấp hành chủ trương tổng công kích, tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, ngày 25/10/1967, Trung ương Cục miền Nam đã ra Nghị quyết Quang Trung để hiện thực hóa chủ trương này, noi gương chiến công xuân Kỷ Dậu 1789 của thiên tài quân sự Quang Trung Nguyễn Huệ. Khu trọng điểm chiến lược lâm thời được thành lập gồm Sài Gòn – Gia Định, một phần đất của các tỉnh tiếp giáp với Sài Gòn và các vùng thuộc miền Đông Nam Bộ.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt nổ ra vào đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 (ngày mồng một Tết Mậu Thân). Suốt từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau, quân dân miền Nam bất ngờ tiến công và phát động nổi dậy rộng khắp ở 6 thành phố lớn, 44 thị xã, hàng trăm quân lỵ, giải phóng một số nơi, đánh sập bộ máy ngụy quyền cơ sở ở nông thôn. Hiệu lệnh phát động chiến dịch chính là bài thơ chúc Tết của chủ tịch Hồ Chí Minh phát đi trên sóng phát thanh:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.

Khi đó Hoa Kỳ về cơ bản đã trúng kế “nghi binh Khe Sanh”, bị thu hút vào đòn nghi binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Khe Sanh, nơi được các giới chức quân sự Mỹ kỳ vọng là một thế trận “Điện Biên Phủ đảo ngược” với kết quả chiến thắng dành cho quân đội viễn chinh theo đúng kịch bản chiến tranh quy ước.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), trong các báo cáo do điệp viên Phạm Xuân Ẩn chuyển về, từ cấp chỉ huy cho đến viên đại sứ Mỹ, tất cả đều không tin Bắc Việt và Việt Cộng có đủ sức tấn công vào đô thị và các thành phố lớn. Theo Mỹ, chiến trường chính nhất định sẽ diễn ra ở Khe Sanh.

Ông Tư Cang còn cho biết thêm: “Trung ương cục miền Nam còn làm bộ để rơi những tài liệu vào tay Mỹ để họ tin rằng mình sẽ đánh mạnh trên vùng giới tuyến, nhất là Khe Sanh”.

Đại tá Hồ Khang, một trong những người biên soạn sách “Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975” do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản, khi trả lời phỏng vấn trong phim tài liệu “Mậu Thân 1968” của hãng phim Bản Sắc Việt, đã cho biết: “Cái từ ‘Điện Biên Phủ’ xuất hiện trong tư duy của phía Mỹ mà Cục 2 (tình báo) báo cáo lại chính là một gợi ý để chúng ta tương kế tựu kế thực hiện một ‘Điện Biên Phủ giả vờ’ để lừa đối phương, ghìm chặt Mỹ ở chiến trường rừng núi, tạo điều kiện cho đòn tấn công vào các đô thị. Vì vậy sau này phía Mỹ và phương Tây cho rằng Việt Nam là bậc thầy trong việc nghi binh”.

Đến mùa khô thứ ba, khi Mỹ chưa kịp ra tay và tập trung chú ý vào căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm thì cuộc tổng tấn công và nổi dậy đã nổ ra trên hầu hết các đô thị miền Nam.

Đây là đòn chiến lược bất ngờ làm rung chuyển toàn nước Mỹ. Đại tướng tổng tư lệnh liên quân William Westmoreland bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng McNamara từ chức. Tổng thống Lyndon B. Johnson phải tạm ngừng ném bom miền Bắc, Washington chấp nhận vào bàn đàm phán với Hà Nội tại hội nghị Paris về Việt Nam.

Nhà sử học, chuyên gia Việt Nam học Merle L. Pribbenow II trong sách General Vo Nguyen Giap and the Mysterious Evolution of the Plan for the 1968 Tet Offensive (Tướng Võ Nguyên Giáp và tiến trình bí mật của kế hoạch Tết Mậu Thân 1968), do ngành Việt Nam học của Đại học California xuất bản năm 2008, đã nhận định: “Cuộc tấn công Tết Mậu Thân có lẽ là sự kiện có sức nảy nở lớn nhất trong lịch sử cuộc chiến dài dặc của Mỹ tại Việt Nam. Đây là một thời điểm bước ngoặt trong cuộc chiến, một thời điểm kể từ đó không có đường lùi nữa. Chiến lược gia quân sự Trung Quốc cổ đại Tôn Tử viết: Nước lũ cuốn trôi cả đá gạch, đó là nhờ thế nước lũ; Chim ưng vồ mồi xé nát con mồi, đó là nhờ thế tiết nhanh chớp nhoáng. Trong quyết định tung cuộc Tổng tiến công Tết, quân Giải phóng đã làm theo lời chỉ dạy của Tôn Tử. Họ đã sử dụng sự ‘biến hóa’, và ‘thế tiết’ của họ là hoàn hảo.”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài tham luận “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử” trong hội thảo sử học “Đại thắng mùa Xuân 1975 – Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương tổ chức trong hai ngày 14 và 15/4/2005 đã ghi nhận: “Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một sáng tạo quân sự độc đáo, tạo ra bước ngoặt cơ bản làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra quá trình ‘xuống thang chiến tranh’ của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã đánh bại một bước ý chí xâm lược của Mỹ trong lúc quân Mỹ đông nhất, mạnh nhất và những cố gắng chiến tranh cao nhất. Chiến lược ‘chiến tranh cục bộ’ bị phá sản, chính quyền Mỹ phải ‘phi Mỹ hóa’ – ‘Việt Nam hóa chiến tranh’.”

Nhưng ông cũng phê bình: “Lại do chủ quan duy ý chí, không nắm vững quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nên đã chủ trương tiến hành tổng khởi nghĩa, bộc lộ toàn bộ cơ sở cách mạng của quần chúng trong chiến tranh ngay khi trên chiến trường còn hơn một triệu quân Mỹ – ngụy và các nước chư hầu. Việc tiếp tục kéo dài tấn công vào các đô thị, chậm chuyển hướng hoạt động về nông thôn trong Mậu Thân 1968 đã gây ra nhiều tổn thất về thế và lực cho cách mạng.


Miền Nam tổng nổi dậy năm 1968

1A. Mặt trận Sài Gòn

Tuy cuộc tiến công và khởi nghĩa diễn ra trên toàn miền, nhưng trọng điểm chiến sự là ở Sài Gòn và Huế. Quân cách mạng đã giữ được một thành phố lớn như Huế gần 1 tháng, sự kiện chấn động này đã lên hầu hết các mặt báo quốc tế, như một cái tát thách thức uy thế Hoa Kỳ, làm tổn thương uy danh nước Mỹ.

Những hình ảnh chiến cuộc ở Sài Gòn thì đã được ghi vào những thước phim của các phóng viên chiến trường quốc tế, và những phóng viên gan dạ đó đã đưa hình ảnh khốc liệt của chiến tranh vào từng căn hộ Mỹ và thế giới. Nó vô tình làm cho cho cả thế giới thấy sự chiến đấu can trường của quân dân Việt Nam, sự tàn ác của Mỹ-ngụy khi xử bắn tù binh ngoài đường, sự bất lực của “đội quân vô địch” Hoa Kỳ, sự vô dụng, rệu rã của các lính kiểng ngụy quân ở đô thị Sài Gòn.

Chứng kiến sự bó tay của quân Mỹ và sự bất lực của quân ngụy, để cho lực lượng biệt động Sài Gòn đánh thẳng vào các mục tiêu khó tin nhất như Tòa đại sứ Mỹ, Dinh tổng thống ngụy, Đài phát thanh Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất, các đại biểu Quốc hội Mỹ, các thành viên Chính phủ Mỹ càng ngao ngán hơn, ý chí xâm lược và niềm tin chiến thắng càng lung lay hơn.

Nhưng để có được một Mậu Thân lịch sử, để có được kết quả đó ở Sài Gòn thì vai trò của quân và dân Củ Chi là rất lớn. Quân dân du kích Củ Chi đã dốc toàn lực trợ giúp các chiến sĩ biệt động đánh thẳng các cơ quan đầu não của Mỹ tại Sài Gòn.

Trước đó 1 ngày đã diễn ra đêm văn nghệ Tết Quang Trung trước giờ G ở Sài Gòn, thu hút hơn 20.000 khán giả đứng ngồi chật chội không còn chỗ nào, được các thành viên cách mạng trong phong trào đấu tranh đô thị ở Sài Gòn tổ chức để ngầm gởi lên thông điệp chống ngoại xâm giữa lúc gần 60 vạn quân Mỹ đang hoành hành khắp miền Nam. Lá cờ Quang Trung (cờ đỏ mặt trời vàng) nhìn xa làm cho khán giả liên tưởng đến lá quốc kỳ cờ đỏ sao vàng. Những cô gái Sài Gòn đi tải đạn, những cụ hòa thượng, những nhà sư già khuân vác vũ khí vào thành theo truyền thống nhà Phật góp phần giữ nước bảo vệ giang sơn xã tắc.

Có những bà má tặng cho kháng chiến, cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước những đứa con cuối cùng của mình. Rồi chính những bà má cũng không ngồi không, mà góp phần xách giỏ rau (súng ở dưới, rau ở trên) vào thành.

Nếu không có dân, không có sự ủng hộ gần như tuyệt đối của người dân Sài Gòn và cả Gia Định, Chợ Lớn, thì chắc chắn không có trận Mậu Thân ở Sài Gòn. Bởi vì nếu không có dân thì không thể nào vận chuyển vũ khí đạn dược vào thành. Đây là những trận đánh quyết tử nên cũng chẳng có chuẩn bị hậu cần, y tế gì cả. Chuyện ăn chuyện ở và thương binh đều do dân giải quyết và chăm sóc, quân trốn trong nhà dân.

Ngay đêm tiến công đầu tiên ở Sài Gòn các đội biệt động cảm tử đã đánh thẳng vào các mục tiêu khó tin nhất: Tòa Đại sứ quán Hoa Kỳ, dinh tổng thống ngụy quyền, đài phát thanh Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất…. Sau đó quân tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố tiếp quản các mục tiêu và tham chiến.

Cuộc tiến công đã gây bất ngờ lớn cho cả thế giới và gây chấn động dư luận quốc tế, và cho thấy sự bất lực của hệ thống tình báo CIA ở Việt Nam, họ đã không tiên liệu được khả năng, tính chất cũng như thời điểm, quy mô của chiến dịch.

Lịch sử đôi khi là những chuỗi sự kiện tái hiện đi tái hiện lại. Tháng 9 năm 1413, trong cuộc kháng chiến chống Minh lần thứ 2 (nhà Hậu Trần lãnh đạo), quân Việt do tướng Đặng Dung chỉ huy đã đột kích đánh úp thủy trại của quân Minh ở Hóa Châu với mục đích “cầm tướng”, muốn bắt sống Trương Phụ, chủ tướng nhà Minh. Quân của Đặng Dung đã vào được thuyền của Trương Phụ định bắt sống nhưng ông ta đi thuyền nhỏ trốn thoát được.

Ngày 30/1/1968, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, lịch sử đã tái hiện ở tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Đúc kết kinh nghiệm đánh giặc của cha ông, Đội biệt động số 11 do đội trưởng Ngô Thành Vân (Ba Đen) chỉ huy đã đột kích đánh úp Tòa đại sứ. Mục tiêu cao nhất đề ra trong trận đánh này là phải bắt sống Đại sứ Ellsworth Bunker, người được xem là một dạng thái thú, quan toàn quyền kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Sau khi diệt các quân cảnh Mỹ gác ở cổng, lực lượng biệt động dùng thuốc nổ phá hủy tường, tiến đánh vào trong và đã đột nhập lên được tầng 3 và phòng của Bunker định bắt sống nhưng ông ta đã đi xe bọc thép trốn thoát sang một hầm bí mật ở một địa điểm khác.

Gần nửa giờ sau khi Đại sứ quán bị đánh úp bất ngờ, một toán quân Mỹ đến cứu viện, nhưng bị lực lượng biệt động bắn chặn nên không vào được cổng chính. Bảy giờ sáng ngày 30/1/1968, một trung đội Mỹ lọt được vào cổng chính. Cuộc hỗn chiến trong sứ quán diễn ra quyết liệt.

Chín giờ sáng, quân Mỹ đổ được một bộ phận lực lượng sư đoàn Dù 101 xuống sân thượng Tòa đại sứ. Lực lượng biệt động Sài Gòn Đội 11 đã dũng cảm chiến đấu đến người cuối cùng. Trận đánh Tòa đại sứ Mỹ kết thúc, đội trưởng Ngô Thành Vân bị thương và sa vào tay giặc, tất cả chiến sĩ biệt động khác đều hy sinh. Quân Mỹ cũng bị thương vong nặng: 22 lính chết và 124 bị thương.

Việc quân Giải phóng đánh chiếm và làm chủ Tòa đại sứ Mỹ tới hơn 6 giờ đã gây một tiếng vang lớn, làm chấn động nước Mỹ và thế giới. Tất cả các cấp chỉ huy quân sự, ngoại giao ở Sài Gòn và cả nước Mỹ bàng hoàng, sửng sốt.

Đại tướng William Westmoreland trong hồi ký A Soldier Reports (Tường trình của một quân nhân), do Doubleday xuất bản năm 1976, đã thuật lại những gì ông chứng kiến: “Khu sứ quán thật là hỗn độn, xác người Mỹ và người Việt Nam vẫn nằm ngổn ngang. Nhưng không giống như hầu hết các chiến trường, các nhà báo, các nhà quay phim vô tuyến truyền hình Mỹ hình như có mặt khắp mọi nơi. Nét mặt họ ánh lên nỗi buồn bực và tâm trạng không tin nổi, như thể ngày tận thế đã đến rồi”. Westmoreland sau đó vội báo cáo với tổng thống Lyndon B. Johnson rằng ông ta đã “làm chủ tình hình”, nhưng Johnson đã nói chua chát: “Việt Cộng đã đi dạo mát trong sứ quán của ta rồi”.

Cùng ngày tại Dinh tổng thống ngụy, đội Biệt động số 5 do đội trưởng Tô Hoài Thanh (Ba Thanh) chỉ huy gồm 15 người xuất phát từ hai hướng tiến thẳng vào. Năm chiến sĩ trèo qua tường rào, tấn công vào trong dinh và hy sinh tại chỗ. Bên ngoài, 3 xe viện binh Mỹ chạy đến đã bị đội Biệt động tiêu diệt. Gần sáng, không thấy viện binh, những chiến sĩ Biệt động còn sống sót rút vào một cao ốc đang xây dở cạnh đó tử thủ, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của quân đội Mỹ nhưng mất thêm một người. Gần sáng mùng 3 Tết, lợi dụng những lỗ hổng trên tường do đạn bắn, 7 người còn lại dìu nhau thoát ra đường Thủ Khoa Huân. Đến sáng thì nhóm bị bao vây, còn quả lựu đạn cuối cùng các chiến sĩ định rút chốt chết chung với giặc nhưng không nổ, 7 người sa vào tay giặc.

Tại Đài phát thanh Sài Gòn, Đội biệt động số 4 (cụm 1) do đội trưởng Nguyễn Văn Tăng chỉ huy, sau vài phút chiến đấu đã chiếm được đài, loại khỏi vòng chiến đấu một trung đội cảnh sát dã chiến bảo vệ. Nhưng nhân viên kỹ thuật và bộ phận chính trị phụ trách phát thanh đã bị ngăn chặn ở Phú Thọ Hoà không đến kịp nên ý muốn dùng Đài phát thanh để kêu gọi, trấn an, và gây tiếng vang dư luận không thực hiện được.

Nhận rõ vị trí quan trọng của Đài phát thanh, ngay sau khi đài bị mất, quân Mỹ đã dùng cả trực thăng vũ trang, xe tăng yểm trợ nhanh chóng tổ chức lực lượng phản kích. Sau đó quân Mỹ đã bao vây toàn khu vực. Sau ba ngày chiến đấu quyết liệt, những chiến sĩ biệt động còn sống sót quyết định cảm tử, dùng bộc phá phá hỏng một góc đài phát thanh. Lực lượng biệt động hầu hết đều hy sinh, chỉ còn 2 người sống sót.

Tại khu vực Bộ Tổng tham mưu quân ngụy và sân bay Tân Sơn Nhất, cụm biệt động 2 (gồm các đội 6, 7, 9) do Đỗ Tấn Phong chỉ huy đánh vào cổng 5 Bộ Tổng tham mưu và cổng Phi Long (sân bay Tân Sơn Nhất). Sau ít phút tiến công, đội chiếm được cả hai cổng. Sau đó quân đội Mỹ-ngụy phản kích, sau gần một ngày chiến đấu quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều lính giặc, bắn cháy hai xe bọc thép. Đến 14 giờ ngày 30/1/1968, do bị tổn thất và hết đạn, những người còn lại của cụm biệt động phải rút quân.

Tại Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy, 16 chiến sĩ Đội biệt động số 3 (Cụm 1) do đội trưởng Trần Văn Lém (Bảy Lốp) chỉ huy dùng hai xe du lịch đưa lực lượng đến trước mục tiêu. Sau khi diệt hai lính gác ở đầu cầu Cửu Long, biệt động đánh bộc phá mở cửa và đột nhập vào bên trong, nhưng bị hỏa lực ngăn chặn mạnh, không phát triển được. Các chiến sĩ Biệt động chiến đấu cho đến khi hy sinh gần hết, chỉ còn hai người về được căn cứ và Phân khu 4.

Đêm 17/2/1968, trung đoàn 96 và 208 ĐKB pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, Nha cảnh sát đô thành, căn cứ sư đoàn 1 Bộ binh Hoa Kỳ ở Phú Lợi. Trong số 88 quân nhân Mỹ thuộc lực lượng tuần giang Cửu Long chờ máy bay về Mỹ, số đông bị chết, sáu máy bay bị phá hủy.

1B. Mặt trận Huế

Cũng vào ngày 30/1/1968, pháo binh quân Giải phóng đồng loạt pháo kích các mục tiêu quân sự của giặc, mở đầu cho cuộc tấn công vào nội đô Huế. Sau loạt pháo mở màn, lực lượng quân Giải phóng trên hai hướng cùng lúc đánh vào 40 mục tiêu trong và ngoài thành Huế.

Đại đội 1 (thuộc Tiểu đoàn 12 đặc công) và Đại đội 2 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 6) đánh vào Mang Cá. Trong lúc đánh Mang Cá thì Đại đội 2 (Tiểu đoàn 12 đặc công) phối hợp với Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 6) đánh chiếm sân bay Tây Lộc. Được cơ sở bên trong hỗ trợ, một bộ phận đánh sân bay bí mật đột nhập qua cổng Thủy Quan, nhanh chóng theo sông Ngự Hà vào chiếm góc tây nam sân bay, phá hủy 20 máy bay và một số xe quân sự.

Tại khu Đại Nội, Cột Cờ, Đại đội 4 đột phá cửa Hữu, dùng một mũi thọc sâu nhanh chóng chiếm khu Cột Cờ lúc 4 giờ 30 phút. Còn lại đại bộ phận của Đại đội 4 cùng Đại đội 3 theo đường Yết Kiêu, Lê Huân đánh vào khu Đại Nội. Đến 5 giờ sáng quân Giải phóng chiếm toàn bộ khu Đại Nội. Tám giờ sáng, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên trên cột cờ báo hiệu đã làm chủ trung tâm thành phố Huế. Đến ngày 2, quân Giải phóng đã giành quyền kiểm soát phần lớn Huế.

Nhìn chung, trong những ngày đầu tổng tiến công và nổi dậy ở thành phố Huế, quân Giải phóng đánh chiếm được một số mục tiêu chủ yếu, đồng thời phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở nhiều nơi. Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình và Ủy ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên – Huế ra mắt đồng bào. Hãng tin Pháp AFP ngày 7/2/1968 đã bình luận:“Rõ ràng họ (MTDTGPMNVN) có một tổ chức mạnh mẽ trong thành phố này vì họ có thể huy động rất nhiều người ra làm việc cho họ”.

Sau những thất bại ban đầu, từ ngày 8/2/1968, quân Mỹ bắt đầu phản kích dữ dội. Mỹ huy động cả viện binh từ lực lượng tổng trừ bị ngụy từ Sài Gòn ra đánh giúp. Từ ngày 9/2 đến 12/2, hai phía Mỹ – Việt giao tranh quyết liệt tại 4 cổng thành (Chánh Tây, cửa Hữu, Thượng Tứ, Đông Ba) và từ quốc lộ 1 vào An Hòa.

Ngày 17/2, quân Mỹ chiếm được Đông Ba. Ngày 18/2, quân Mỹ chiếm cổng Thủy Quan, uy hiếp cửa Hữu, cửa An Hòa và cửa Thượng Tứ. Lực lượng quân Giải phóng bị đẩy lùi dần vào trong thành nội.

Ngay sau đó, Mỹ ồ ạt tăng quân lên 23 tiểu đoàn nhằm giành lại thành Huế. Sức ép của quân Mỹ ngày càng tăng. Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, tránh bị vây kín, ngày 22/2/1968, Khu ủy Trị – Thiên và chỉ huy mặt trận Huế quyết định rút toàn bộ lực lượng ra ngoài thành phố.

Sau 25 ngày chiến đấu, quân Mỹ-ngụy có hơn 4.400 thương vong, quân Giải phóng cũng có hơn 4.000 thương vong. Với việc giữ được thành phố gần 1 tháng, quân Giải phóng tại Huế đã tạo thành công lớn và giữ được thành phố lâu nhất so với các thành phố khác, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung về chính trị của cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền.

Trong 25 ngày chiến đấu, quân Mỹ dùng pháo hạm và máy bay ném bom, pháo kích suốt ngày và đêm. Các loại vũ khí sát thương hàng loạt như bom napalm, pháo không giật 107mm bắn đạn tổ ong (mỗi viên khi nổ sẽ văng ra gần 5 vạn mảnh đinh sát thương), đạn pháo tăng, súng phun lửa v.v. được sử dụng tối đa, gây thương vong lớn cho dân thường. Theo thống kê của nhà báo, nhà sử học người Mỹ Gabriel Kolko, tác giả cuốn sách Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc Chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) do NXB Pantheon Books New York, ấn hành năm 1985, thì sau 25 ngày chiến sự, 80% khu vực dân sự ở Huế đã bị bom đạn Mỹ phá hủy, hàng ngàn thường dân cũng chết trong các cuộc giao tranh. Những hình ảnh tàn phá ghê gớm tại Huế được trình chiếu trên TV trong từng ngôi nhà Mỹ đã góp phần lớn nhất thúc đẩy tâm lý phản chiến của người Mỹ.

Sau trận chiến 25 ngày, Mỹ-ngụy trong sự kiện ở Huế mà nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân và nhiều người ở Huế gọi là sự kiện “Hậu Mậu Thân” đã lùng sục trả thù, giết hại, bất cứ người dân Huế nào có thiện cảm, có giúp đỡ Mặt Trận dù chỉ là vài lon gạo, vài đồng tiền dành dụm, hay cả nhà có 1 người nào đó theo cách mạng, cũng đều bị đem ra trả thù, hành quyết. Họ đã tẩy trắng Huế bằng bom đạn trong nỗ lực chiếm lại thành phố. Và sau khi đã chiếm lại thì họ ngăn chặn phóng viên quốc tế vào tác nghiệp, đồng thời mở cuộc tổng trả thù, trả đũa người dân quy mô lớn.

Sau đó, Mỹ-ngụy gom lại xác những nạn nhân chiến tranh lại, trong đó phần lớn là những người dân bị chết bởi bom đạn Mỹ, những người dân bị chính họ trả thù, tàn sát, những chiến binh Giải phóng, những lính ngụy, những cộng sự của Mỹ, gom lại hết, rồi tuyên truyền giả dối đó là “nạn nhân thảm sát của Việt Cộng”, thậm chí sau đó một số kẻ viết thuê ở Sài Gòn còn nâng lên thành “hành quyết”, “chôn sống”, con số thì có những bài báo phóng đại lên đến “hàng triệu”.

Sau khi chiếm Huế, Mỹ-ngụy ngăn cấm tất cả phóng viên quốc tế nào muốn vào Huế kiểm chứng các “hố chôn tập thể”. Sau khi dàn dựng một thời gian, họ cho các phóng viên báo chí ngụy quyền, hoặc chống cộng, hữu khuynh vào “đưa tin”, “làm phóng sự”, rồi sau đó mới cho phép các phóng viên quốc tế, trung lập vào tác nghiệp.

Mỹ-ngụy làm vậy là để đánh đòn tâm lý chiến, làm át đi tiếng vang chiến công của Mặt Trận, át đi sự thất bại làm chấn động cả miền Nam, làm át đi âm vang, dư âm, dư luận của sự kiện Mậu Thân 1968 khi toàn miền Nam đồng loạt nổi dậy khởi nghĩa.


Quân Mỹ chịu tổn thất nặng nề sau 5 ngày tuần tra trong một khu rừng ở Huế (1968).

1C. Tấn công và nổi dậy đợt 2

Sau khi William Westmoreland bị cách chức, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc giao cho đại tướng Creighton Abrams làm Tổng tư lệnh lực lượng liên quân ở Nam Việt Nam. Để thực hiện chiến lược Quét và Giữ có hiệu quả, giữa tháng 4/1968, Clark Clifford, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ chỉ thị cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam thực thi 3 biện pháp cấp bách:

  • Xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc ở trong và xung quanh các thành phố, các căn cứ, các tiểu khu, chi khu quân sự các điểm chốt trên các trục đường giao thông.
  • Lập những vành đai đủ sức ngăn chặn các cuộc tiến công mới của quân Giải phóng. Đẩy chiến tranh ra xa các thành phố, thị xã quan trọng có ý nghĩa chiến lược.
  • Mở các cuộc hành quân càn quét để giải tỏa các thành thị, căn cứ, đường giao thông, ngăn chặn bước tiến của quân Giải phóng.

Song song với đó, tổng thống Mỹ Johnson, Đại sứ Bunker ra sức tuyên truyền cứu vớt hình ảnh chính trị trong dư luận Mỹ và thế giới vốn đang lên án mạnh mẽ. Các phương tiện thông tin đại chúng quốc tế ngày đêm phát đi những tuyên bố của những nhà lãnh đạo Mỹ rằng: “Việt Cộng và Bắc Việt Nam đã bị Mỹ và đồng minh truy kích; Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã nắm quyền chủ động chiến trường; Việt Cộng đã đuối sức, hết hơi.” để xoa dịu làn sóng đấu tranh phản chiến của nhân dân Mỹ và những chất vấn của Quốc hội.

Cuối tháng 3/1968, sau khi sơ bộ kiểm điểm đợt 1 tiến công vào Sài Gòn – Gia Định, Trung ương Cục và Quân ủy Miền cử đại diện ra Hà Nội báo cáo và đề nghị cho quân dân miền Đông Nam Bộ tiếp tục mở đợt 2 đánh vào Sài Gòn với lý do: “Yếu tố bất ngờ vẫn còn, mặc dù địch đã co về phòng giữ nội thành và vùng ven, nhưng chúng còn nhiều sơ hở, đợt 1 ta mới sử dụng bộ phận đặc công, một số đội biệt động, du kích mật và quần chúng. Các tiểu đoàn mũi nhọn, các trung đoàn khu vực, các sư đoàn chủ lực cơ động vẫn còn sung sức, quyết tâm lập công cao… Nếu ta khắc phục được khuyết điểm trong đợt 1 thì sức đột kích trong đợt 2 sẽ mạnh hơn nhiều và sẽ là một bất ngờ mới đối với địch.”

Ngày 5/5/1968, cuộc tổng tiến công và nổi dậy đợt 2 trên toàn Miền đã nổ ra. Trong tuần lễ đầu, quân Giải phóng đánh trúng 89 thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ căn cứ Mỹ-ngụy từ Trị – Thiên đến Cà Mau, từ đồng bằng ven biển đến Tây Nguyên.

Trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn – Gia Định, từ hướng tiến công chủ yếu phía tây thành phố, Trung đoàn 2 gồm các tiểu đoàn 267, 269, tiểu đoàn 6 Bình Tân do trung đoàn trưởng Võ Văn Hoàng chỉ huy tiến công cụm radar Phú Lâm, phát triển vào Cầu Tre, tập kích đánh tiêu hao một tiểu đoàn Biệt động quân ngụy, phát triển đánh chiếm khu vực đường Minh Phụng và Bình Thới.

Cuộc tổng tiến công giai đoạn hai đợt 2 kéo dài đến ngày 13/6 mới kết thúc. Các tiểu đoàn cảm tử của quân Giải phóng đã gây nhiều bất ngờ về chiến thuật và khả năng chiến đấu thọc sâu trong thành phố, tiếp tục gây nhiều thiệt hại cho lực lượng Mỹ-ngụy. Mặc dù vậy, các đơn vị bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương phải chiến đấu trong khi yếu tố bí mật không còn, đối phương tăng cường triển khai đối phó, hầu hết các cuộc hành quân tiếp cận đều bị ngăn chặn, nhiều đơn vị không đến được mục tiêu trên giao.


Lính Mỹ bị thương tại Gia Định, gần Sài Gòn (6/5/1968)

1D. Tấn công và nổi dậy đợt 3

Sau 2 đợt của cuộc tổng tiến công, song song với việc tìm cách trấn an dư luận thế giới và nhân dân Mỹ, tại miền Nam Việt Nam, Mỹ tìm mọi cách tăng cường sức mạnh quân sự nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường.

Một mặt, Mỹ ráo riết thực hiện kế hoạch “bình định cấp tốc” ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn, ra sức bắt lính, đôn quân, tiếp tục chiến tranh.

Cùng với việc gia tăng quân ngụy, Mỹ đã chuyên chở một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam Việt Nam để bù đắp số mất mát, hư hỏng qua hai đợt tổng tiến công và nổi dậy, đồng thời thay thế một số chủng loại vũ khí cũ bằng vũ khí hiện đại hơn.

Đến cuối năm 1968, tại miền Nam Việt Nam, theo số liệu Mỹ công bố, đã có 535.000 lính Mỹ và 65.791 lính thuộc quân đội các nước đàn em của Mỹ, được biên chế trong 9 sư đoàn, 5 lữ đoàn quân Mỹ, 2 sư đoàn và 3 trung đoàn quân các quốc gia đồng minh, chư hầu.

Về phía Quân Giải phóng miền Nam, qua hai đợt tổng tiến công liên tục Tết và tháng 5, lực lượng và vũ khí, đạn dược đã bị tổn thất lớn, chưa kịp bổ sung. Bên cạnh đó, lực lượng bí mật ém trong nội thành và phần lớn cơ sở – nơi cất giấu vũ khí, trang bị, chỗ đứng chân, nơi xuất phát tiến công cho các đợt tiến công tiếp sau đã bị lộ, bị đánh phá mất gần hết.

Tại Sài Gòn, mặc dù thời cơ đã mất, nhưng theo Bộ tư lệnh khu V thì: “Không khí tổng công kích – tổng khởi nghĩa vẫn còn, nhưng có kèm theo tâm lý cay cú ở một số đồng chí muốn tấn công vào Sài Gòn như hai đợt trước”. Trên mặt trận Quảng – Đà (Khu V) và một số mặt trận khác, do còn giữ được thế và lực còn mạnh, nên Bộ tư lệnh Khu V đã đề nghị Trung ương cho mở tiếp đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy. Ngược lại, cũng có nhiều nơi xin tạm dừng tiến công để xốc lại đội hình, bổ sung, củng cố lực lượng, vũ khí trang bị.

Sự kiện đáng chú ý trong giai đoạn này là việc quân Mỹ tại Khe Sanh đã bị buộc phải phá hủy căn cứ và rời khỏi đây do sức ép của quân Giải phóng. Cuộc rút quân được diễn ra bí mật, nhưng cuối cùng vẫn bị lộ ra bởi báo chí đưa tin. Vụ việc này góp phần khuyếch đại thành công chiến lược, đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và cũng làm tăng khí thế cho quân Giải phóng.


Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, lực lượng được xem là thiện chiến nhất thế giới, di tản khỏi căn cứ Khe Sanh ngày 1/7/1968

Nhằm thống nhất chủ trương hoạt động trên chiến trường, ngày 24 và 25/7/1968, Thường trực Quân ủy Trung ương, bao gồm bí thư thứ nhất Lê Duẩn, đại tướng Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Song Hào, Trần Quý Hai họp bàn kế hoạch hoạt động trong Đông – Xuân (1968 – 1969). Ngoài ra, Thường trực Quân ủy Trung ương còn mời thêm Hoàng Anh, Lê Trọng Tấn, Trần Sâm, Đinh Đức Thiện, Nguyễn Đôn…. cùng tham dự cuộc họp.

Bộ Chính trị xác định: “Để tạo ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam trong năm 1968, cần phải cố gắng diệt cho được 70 – 80% lực lượng dự bị chiến lược của Mỹ-ngụy. Đánh mạnh vào Sài Gòn, còn ở Đà Nẵng thì tùy theo khả năng mà đánh ở quy mô thích hợp. Song, dù thế nào cũng phải đẩy mạnh hoạt động ở nông thôn để tạo điều kiện cho đánh lâu dài. Đồng thời, đưa lực lượng dự bị chiến lược vào đứng chân ở Tây Nguyên chờ thời cơ.”

Để tránh bị bất ngờ, đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị: “Phải có phương án dự kiến thời cơ đến trước trong kế hoạch hoạt động Đông – Xuân.”

Mục tiêu của đợt 3 tổng tấn công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968 vẫn được Bộ chính trị xác định: Chiến trường Sài Gòn, Gia Định và miền Đông Nam Bộ, Khu V là hướng phối hợp, trọng điểm là Quảng – Đà. Thời gian nổ súng được ấn định vào ngày 17/8, kết thúc vào ngày 28/9/1968.

Thực hiện quyết định của Bộ chính trị và Trung ương Cục miền Nam, mặc dù yếu tố bí mật, bất ngờ không còn, song lực lượng pháo binh, đặc công, biệt động đã phối hợp đồng loạt tiến công trên 27 thành phố và thị xã, hơn 100 thị trấn, quận lỵ, chi khu quân sự, 47 sân bay các loại, 3 tổng kho hàng hoá quân sự, 6 bộ tư lệnh cấp sư đoàn của Mỹ và Sài Gòn.

Sau nhiều tháng chiến đấu với giặc ở đợt 2 và 3, quân Việt đã khoét sâu vết thương đang nhức nhối của Mỹ về mặt chính trị, chiến lược, khuếch đại được những tiếng vang gây ra ở đợt 1, làm cho dư luận nội bộ Mỹ hầu như không còn chịu đựng nổi nữa, đồng thời gây tổn thất quân sự, chiến thuật không nhỏ cho giặc. Tuy nhiên, do đợt 2 và 3 quân Mỹ đã đề phòng nên về cơ bản là yếu tố bất ngờ không còn nữa, nên quân Việt bị tổn thất khá trầm trọng trong 2 đợt này, trên khắp chiến trường miền Nam, kể cả ở mặt trận nông thôn.

Chiến dịch xuân Mậu Thân khép lại bằng các trận chiến trên đèo Hải Vân và ở Đà Nẵng, 1 trong 3 thành phố lớn nhất từ vĩ tuyến 17 trở vào (Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế). Tại Khu 5, ngày 17/8, tiểu đoàn công binh quân Giải phóng đánh sập 3 cầu trên đèo Hải Vân, các tiểu đoàn bộ binh và đặc công cùng lực lượng Hòa Vang tấn công một loạt căn cứ, kiểm soát khu phố Cẩm Lệ, uy hiếp quận lỵ Hòa Vang. Một tiểu đoàn bộ binh tấn công căn cứ biệt kích ngụy người Nùng ở chân núi Non Nước.

Đêm 22/8, sư đoàn 2 chủ lực quân khu và các lực lượng đặc công đồng loạt tiến công vào thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội An, Tam Kỳ và các thị trấn, quận lỵ Hoà Vang, Vĩnh Điện. Sân bay Đà Nẵng bị pháo kích dữ dội, nhiều máy bay bị phá hủy, nhiều lính Mỹ bị giết. Kho xăng ESSO bị pháo kích bốc cháy đến 10 giờ sáng, tiêu hủy 6 triệu lít xăng. Đêm 16/11, quân Giải phóng lại tấn công căn cứ hải quân, sân bay Đà Nẵng và nhiều vị trí khác trong thành phố.

oOo

Nhà sử học Mỹ Larry Berman, tác giả sách Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An Time Magazine Reporter and Vietnamese Communist Agent (Điệp viên hoàn hảo: Hai cuộc đời kỳ diệu của Phạm Xuân Ẩn, phóng viên tuần báo Time và điệp viên cộng sản Việt Nam), trong cuộc phỏng vấn với nữ đạo diễn Lê Phong Lan cho phim tài liệu “Mậu Thân 1968” sản xuất năm 2012, đã nhận xét: “Tất cả người dân Mỹ đều nhìn thấy hình ảnh tòa đại sứ nằm dưới tầm lửa đạn trên TV tại phòng khách mọi gia đình. Họ tự hỏi tại sao điều này lại có thể xảy ra. Tổng thống của chúng ta đã tuyên bố chúng ta đang đi đến khúc ngoặt của cuộc chiến và đang chuẩn bị giành thắng lợi đến nơi rồi. Cuộc tấn công tết bộc lộ ra cho người dân Mỹ thấy rằng toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.

Sau này, trong hồi ký, tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson xác nhận: “Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ, cố gắng của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu đến một số người trong và ngoài Chính phủ, nhân dân Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ rằng chúng ta đã thất bại”. Văn phòng hệ thống phân tích tình hình thuộc Lầu Năm Góc thì đánh giá: “Cuộc tiến công (Mậu Thân) hình như đã vĩnh viễn giết chết chương trình (bình định)”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời phỏng vấn trong phần 7 của loạt phim tài liệu 13 phần Vietnam: A Television History (Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình), do đài PBS (Mỹ), WGBH Boston (Mỹ), CIT (Anh), Antenne–2 (Pháp) và LRE Production (Pháp) sản xuất và phát hành, đã đúc kết: “Đường lối của chúng tôi không chỉ đơn thuần là quân sự, mà là một chính sách tổng thể, kết hợp toàn diện cả quân sự – chính trị – ngoại giao. Cuộc tiến công Mậu Thân có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị”.

Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và tin tưởng vào giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh, đem quân về nước. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác các hành động bạo liệt phi nhân tính của binh lính Mỹ-ngụy được trình chiếu trên TV đã đánh vào lương tâm công chúng. Dân Mỹ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức bởi họ coi Chiến tranh Việt Nam là bẩn thỉu.

Trong hồi ký The White House Years (Những năm tháng ở Nhà Trắng), do công ty Little Brown xuất bản năm 1979 (Phoenix Press tái bản năm 2000, Simon & Schuster tái bản năm 2011, bản tiếng Việt do Thư viện Trung ương Quân đội dịch năm 1982), ngoại trưởng Henry Kissinger đã thừa nhận: “Các thế hệ tương lai có thể khó hình dung được cơn biến động trong nước mà Chiến tranh Việt Nam gây ra…. Chính cơ cấu của chính phủ đã bị tan rã. Ngành hành pháp bị choáng váng. Cuối cùng, con em của họ và con em bạn bè của họ đã tham gia các cuộc biểu tình…. Sự kiệt sức là dấu ấn của tất cả chúng tôi. Tôi phải đi từ nhà tôi, vây quanh là đám người phản đối, đến tầng dưới của Nhà Trắng để được ngủ đôi chút”.

Trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 (1973), Trung ương Đảng đã đánh giá, thẩm định diễn biến và kết quả của đợt 2 và đợt 3, đại ý: Cách mạng đã mắc một số khuyết điểm, chủ quan trong việc đánh giá tình hình nên đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, và còn không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời. Những khuyết điểm, sai sót đó đã nên để mất đất và tổn thất nghiêm trọng. Song thắng lợi trong đợt 2 và 3 tổng tiến công và nổi dậy cũng không nhỏ, cách mạng không chỉ tiêu diệt được một lực lượng chiến lược của Mỹ-ngụy, mà điều quan trọng là đã đánh bồi liên tiếp, đánh tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc tổng thống Johnson phải tuyên bố chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận tham gia hòa đàm Paris về Việt Nam.

Sự kiện tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt của quân dân ba miền Việt Nam, nổ ra trên toàn miền Nam năm Mậu Thân 1968, dù đã bị Mỹ đánh lui và bị tổn thất rất nặng, làm nhiều cơ sở trong thành phố bị lộ và vỡ, nhưng nó đã làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, làm tiêu tan ý chí chiến đấu của binh lính Mỹ, làm nhức nhối tim óc và ý chí chiến tranh của Washington, gây chấn động dư luận và làm phong trào phản chiến càng lan rộng khắp Việt Nam, Hoa Kỳ, và thế giới, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh ở miền Nam, tạm ngưng chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và phải vào bàn đàm phán trong Hội nghị Paris về Việt Nam.


Tổng thống Lyndon B. Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thất thần, tuyệt vọng khi nghe các báo cáo về sự kiện Tết Mậu Thân

Sự kiện Mậu Thân 1968 về cơ bản đã đánh bại chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Ngoài ra, trong giai đoạn này Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng hoàn thành một khối lượng lớn công việc. Trong vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam, những kế hoạch nông nghiệp rộng lớn đã được thực hiện và nhiều cuộc bầu cử đã được tổ chức để thành lập chính quyền địa phương, cuộc bầu cử tháng 11 năm 1968 đã được hoàn thành trong 17 tỉnh, 5 thành phố và 38 huyện ở miền Nam Việt Nam.

Theo ước tính và thống kê của nhà nghiên cứu sử học người Mỹ gốc Nga L.V. Kotov trong bài nghiên cứu American Aggression in Vietnam (Cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam) trên Bách khoa thư Farlex, thì cho đến thời điểm này, tổng số lực lượng vũ trang Hoa Kỳ chiến đấu chống Việt Nam là khoảng 60 vạn (đầu năm 1969). Mỹ đã sử dụng 37% trong tổng số Thủy quân Lục chiến của họ, 41% trong tổng số máy bay chiến đấu của lực lượng không quân chiến thuật, lên đến 20% trong tổng số lực lượng máy bay tấn công tàu sân bay, khoảng 30% trong tổng số trực thăng của lực lượng không quân, và hơn 20% trong tổng số máy bay ném bom chiến lược của họ để tiến hành các hành động quân sự tại Việt Nam.

Hơn 2 triệu tấn vật tư quân sự khác nhau đã được chuyển từ Mỹ đến Việt Nam mỗi tháng trong thời gian 1968-1969. Từ khởi điểm cuộc chiến cho đến cuối năm 1968, không quân Mỹ đã thực hiện trên 90.000 phi vụ không kích miền Bắc Việt Nam, vùng giải phóng miền Nam Việt Nam, và cả Lào, và đến thời điểm đó họ đã sử dụng khoảng 2,3 triệu tấn bom. Đồng thời, quân xâm lược đã thực hiện hơn 500 hoạt động Tìm và Diệt, với các lực lượng khác nhau, từ một tiểu đoàn đến nhiều lữ đoàn.

Sự tổn thất của không quân Mỹ vào năm 1968 trung bình là hơn 70 máy bay một tháng, tổng cộng 3.243 máy bay đã bị bắn rơi trong khoảng thời gian từ ngày 5/8/1964 đến 31/10/1968. Cũng trong thời điểm này, 143 tàu chiến Mỹ bị đánh chìm hoặc hư hại. Đến giữa năm 1969, thương vong của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam, theo thống kê chính thức của Hoa Kỳ, đã đến hơn 3 vạn lính, tương đương số lính chết của Hoa Kỳ trong chiến tranh Triều Tiên và tương đương với thương vong của họ trong Thế chiến I.

Các chiến dịch chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam (1965-1972)

Chiến lược của người Mỹ trên chiến trường miền Nam chủ yếu là dùng bộ binh bình định vùng tạm chiếm và xâm chiếm vùng giải phóng. Còn ở miền Bắc thì họ áp dụng chiến lược chiến tranh phá hoại, sử dụng không quân và hải quân hủy hoại miền Bắc và thủ đô Hà Nội, phá hoại và gây tê liệt tiềm lực kinh tế và quân sự, phá hủy hệ thống giao thông, các cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, hệ thống phòng không của Việt Nam, ngăn chặn miền Bắc tiếp viện cho miền Nam và cộng đồng xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam (bằng cách ném bom chiến lược dai dẳng vào cảng Hải Phòng), khủng bố tinh thần của quân dân Việt Nam đồng thời “lên dây cót” tinh thần đang sa sút của binh lính Mỹ-ngụy (bằng cách ném bom chiến lược dai dẳng vào thủ đô và các đô thị lớn ở miền Bắc VN, những khu dân cư đông người và các mục tiêu dân sự khác).

Nói chung, chiến tranh phá hoại không phải là cuộc chiến xâm lấn, chiếm đóng, mà là cuộc chiến phá hủy, hủy diệt, gây tê liệt, gây khó khăn cho đối tượng.

Chiến tranh phá hoại cũng được sử dụng ở vài nơi tại miền Nam nhưng không quy mô bằng chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ. Và lực lượng được dùng để phá hoại, quấy rối, càn quét vẫn bộ binh là chủ yếu, máy bay quân sự của Mỹ ở miền Nam chủ yếu dùng cho không yểm, yểm trợ cho bộ binh dưới đất.

Chiến tranh phá hoại miền Bắc được Mỹ tiến hành từ giai đoạn cuối chiến tranh đặc biệt, được sử dụng nhiều cho việc phục vụ chiến lược chiến tranh cục bộ, hoạt động song hành, đan xen với chiến tranh cục bộ, và được áp dụng cả trong giai đoạn Việt Nam hóa chiến tranh, rồi đến năm 1972 mới chấm dứt.


“O du kích nhỏ”, một tác phẩm nhiếp ảnh nổi tiếng của nhiếp ảnh gia Phan Thoan. Tác phẩm ra đời trong bối cảnh không quân Mỹ oanh tạc quyết liệt miền Bắc năm 1965. Trong hình là nữ du kích Nguyễn Thị Kim Lai và phi công Mỹ William Robinson. Khi xem hình này năm 1966, nhà thơ Tố Hữu lập tức “ứng khẩu thành thơ”, liền vịnh ngay bức ảnh bằng 4 câu thơ: “O du kích nhỏ giương cao súng / Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu / Ra thế! To gan hơn béo bụng / Anh hùng đâu cứ phải mày râu!“.

Trong số những vũ khí mới mà Hoa Kỳ đặc biệt chế tạo, phát triển cho Chiến tranh Việt Nam có cả các loại vũ khí dành cho chiến tranh phá hoại từ trên không, ví dụ bom định hướng bằng tia laser (LGB – laser-guided bomb).

Theo nhà nghiên cứu quân sự người Mỹ gốc Tiệp Khắc Jirka Wagner trong một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí quân sự American Heritage của Mỹ thì vũ khí định hướng bởi laser đã được Hoa Kỳ phát triển từ đầu những năm 1960. Không quân Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng ở Việt Nam từ năm 1968, vũ khí LGB của Mỹ đã tác xạ chính xác hơn rất nhiều so với các vũ khí không được laser định hướng. Vũ khí LGB đặc biệt rất hiệu quả đối với những mục tiêu tĩnh nhưng khó nhắm, khó bắn trúng như những chiếc cầu ở miền Bắc Việt Nam, mà trước đó mỗi khi Mỹ muốn phá hủy thì đều huy động nhiều máy bay dội bom, phóng tên lửa ồ ạt vào.

Khoảng 48% bom định hướng ném xuống Hà Nội và Hải Phòng trong thời gian 1972-1973 đã trúng đích, trong khi vài năm trước, chỉ có khoảng 5,5% bom không định hướng dội xuống cùng một khu vực là trúng đích.

Một trong những ví dụ rõ ràng nhất về sự lợi hại của những vũ khí và bom được laser định hướng là mục tiêu cầu Hàm Rồng, 70 cây số ở phía nam Hà Nội, là một địa điểm vượt sông Hồng quan trọng. Bắt đầu từ năm 1965, đã có 871 máy bay chiến đấu, máy bay oanh tạc của Mỹ tìm cách đánh sập cầu, tiêu diệt trọng điểm tiếp viện cho miền Nam này, họ bị lực lượng phòng không tinh nhuệ của Việt Nam đuổi đi hết, mất 11 pháo đài bay chiến lược B-52 mà không đạt được mục đích.

Năm 1972, cầu Hàm Rồng đã bị tấn công bởi bom LGB, và 14 chiếc máy bay rốt cuộc đã làm được điều mà 871 chiếc trước đây không làm được, họ đã thành công đánh sập cầu và diệt được một tuyến quan trọng chi viện cho miền Nam.


Cầu Hàm Rồng bị đánh sập bởi bom định hướng bằng tia laser (LGB – laser-guided bomb). Với loại bom mới này, 14 chiếc máy bay đã làm được điều mà 871 chiếc trước đây không làm được.

1. Chiến dịch Rolling Thunder (Sấm Rền)

Tháng 3 năm 1965, không quân Mỹ-ngụy và hải quân Mỹ mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng chiến dịch Rolling Thunder (Sấm Rền). Suốt 3 năm từ 1965 đến 1968, theo tác giả Wayne Thompson trong sách To Hanoi and Back (Đến Hà Nội và Quay về) do Smithsonian Institute Press xuất bản năm 2002 và Carl Berger trong sách The United States Air Force in Southeast Asia (Không quân Hoa Kỳ ở Đông Nam Á) do Văn phòng Lịch sử Không quân, Washington DC xuất bản năm 1977, thì không lực Mỹ đã thực hiện 153.784 phi vụ tấn công miền Bắc Việt Nam, Thủy quân Lục chiến bồi thêm 152.399 phi vụ. Ngày 31/12/1967, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tuyên bố trong chiến dịch Sấm Rền đã có 864.000 tấn bom Mỹ ném xuống Bắc Việt, so với khoảng 653.000 tấn bom trong suốt chiến tranh Triều Tiên và khoảng 503.000 tấn bom ném xuống mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến II.

Theo hồ sơ Appraisal of the Bombing of North Vietnam (Thẩm định cuộc đánh bom Bắc Việt Nam) trong kho lưu trữ hồ sơ Chiến tranh Việt Nam “Vietnam Virtual Archive” của Đại học Texas Tech, thì ngày 1/1/1968, CIA ước tính rằng thiệt hại vật chất mà Bắc Việt phải chịu là lên đến 370 triệu USD, trong đó có 164 triệu USD thiệt hại về các tài sản quan trọng (nhà máy, cầu đường, và nhà máy điện). CIA còn ước lượng số thương vong đối với người Việt Nam ở miền Bắc mỗi tuần là khoảng 1 ngàn người, nghĩa là khoảng 90 ngàn thương vong trong thời gian 44 tháng, khoảng 72 ngàn trong số đó là dân thường.

Tuy gây nhiều thiệt hại cho miền Bắc Việt Nam, nhưng chiến dịch Rolling Thunder đã không chặn được dòng tiếp viện Bắc – Nam; ngược lại đẩy thêm phong trào chống chiến tranh ở Mỹ và trên thế giới. Mỹ thừa nhận mất gần 1 ngàn máy bay; gần 500 phi công bị bắt sống. Do bị tổn thất nặng nề và bị sức ép từ phong trào phản chiến, Hoa Kỳ đã chấm dứt hoạt động ném bom trên phía Bắc vĩ tuyến 19 từ tháng 4/1968 và trên toàn miền Bắc Việt Nam từ tháng 11/1968.

2. Chiến dịch Linebacker

Sau 3 năm tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, và 4 năm tạm ngưng, từ khoảng giữa tháng 4 đến đầu tháng 5 năm 1972, Mỹ lại bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, kéo dài đến cuối tháng 10 cùng năm.

Không quân Mỹ-ngụy lần này do các tướng Melvin R. Laird, Thomas H. Moorer, John Dale Ryan, John C. Meyer, John W. Vogt, Jr chỉ huy. Bên phía Việt Nam về tổng thể do đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng Văn Tiến Dũng, Phùng Thế Tài, Lê Văn Tri, Hoàng Phương chỉ huy.

Để giải tỏa áp lực tiến công của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Xuân – Hè năm 1972; Hoa Kỳ quyết định mở chiến dịch Linebacker, ném bom miền Bắc Việt Nam, thả thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng, nhằm gây tê liệt và kiệt quệ miền Bắc, ngăn chặn các nước đồng minh viện trợ cho Việt Nam và miền Bắc chi viện cho miền Nam.

Lần này Hoa Kỳ đã tung ra những loại máy bay mới nhất và những đòn tiến công mạnh mẽ, ác liệt hơn so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (Rolling Thunder). Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, thủ đô của Việt Nam đã bị đánh phá ác liệt. Tổng kho xăng dầu Đức Giang bốc cháy hơn 1 tuần. Lần đầu tiên Hải Phòng bị pháo đài bay chiến lược B-52 rải thảm. Các cuộc oanh tạc Hà Nội và Hải Phòng cùng những hoạt động phóng ngư lôi phong tỏa các hải cảng ở miền Bắc Việt Nam, do tổng thống Richard Nixon ra lệnh vào tháng 5 để trả đũa chiến dịch Xuân – Hè 1972, đã giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế ở miền Bắc Việt Nam. Các hoạt động vận chuyển hàng hóa từ bên ngoài vào miền Bắc, cũng như các hoạt động tiếp tế của miền Bắc cho miền Nam Việt Nam bị suy giảm rõ rệt.

Ngoài hai trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng, không quân Mỹ-ngụy còn tấn công ác liệt khắp miền Bắc. Cơ sở hạ tầng của miền Bắc từ đường bộ, đường sắt, cầu, cảng, nhà máy, cơ sở sản xuất cho đến đê điều đều bị tàn phá nặng nề. Phía Mỹ có hơn 1 ngàn máy bay các loại bị bắn hạ. Trong số các máy bay bị bắn rơi có 34 chiếc B-52, 4 chiếc F111. Sau khi bị thiệt hại nặng nề, Mỹ tạm ngưng chiến dịch Linebacker, chuyển trọng tâm vào hội nghị Paris về Việt Nam.


Các em nhỏ Hà Nội trước hầm chữ A tại nơi sơ tán

3. Chiến dịch Linebacker II – Điện Biên Phủ trên không

Ngày 18/12/1972, Hoa Kỳ mở chiến dịch Linebacker II, nhằm tàn phá miền Bắc Việt Nam với trọng tâm chiến lược ở thủ đô Hà Nội. Ý đồ chiến lược của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ là tấn công dồn dập bằng pháo đài bay B-52, máy bay ném bom tối tân nhất thế giới, dùng sức mạnh và biện pháp không hạn chế đánh thẳng vào các trung tâm đầu não của Việt Nam, để gỡ thế thất bại ở miền Nam và ép Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện của họ trong hội nghị Paris về Việt Nam.

Chiến dịch này còn được giới dân sự Mỹ gọi là The December Raids (Cuộc bắn phá tháng 12) hoặc là The Christmas Bombings (Rải bom lễ Giáng sinh), một số người còn ví von gọi là “The nightmare before Christmas” (Cơn ác mộng trước Giáng sinh).

Tại Việt Nam, sự kiện này ban đầu được gọi giản dị là “cuộc chiến 12 ngày đêm”, ngay sau đó một số báo Pháp đưa tin về việc này, đã ví trận thắng này như trận thắng Điện Biên Phủ ở trên không trung. Từ đó khái niệm “Điện Biên Phủ trên không” được báo chí Việt Nam thấy hay nên sử dụng đến nay.

Phía Hoa Kỳ do hai tướng John Dale Ryan (Thành viên của Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ – JCS, cố vấn cao cấp của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ và Hội đồng An ninh Quốc gia, lập nhiều chiến công thành tích trong Thế chiến II) và John W. Vogt Jr (nguyên Tư lệnh lực lượng Đồng minh ở mặt trận Trung Âu trong Thế chiến II, Tổng tư lệnh Không quân Hoa Kỳ ở châu Âu) chỉ huy.

Phía Việt Nam về cơ bản do ba tướng Văn Tiến Dũng, Phùng Thế Tài, Lê Văn Tri chỉ huy. Hầu hết toàn bộ quân dân Hà Nội và nhiều tỉnh thành miền Bắc đều tham chiến, trong đó một bộ phận không nhỏ nữ binh và bạch đầu quân (lính tóc bạc, những cụ già cầm súng chống giặc).

Không chỉ có miền Bắc chống lại chiến dịch Linebacker II của Mỹ, mà đồng bào miền Nam cũng góp sức chống lại chiến dịch này bằng những trận đánh để “rửa hận cho miền Bắc”. Ngay từ những ngày đầu không quân Mỹ đánh bom miền Bắc, đông đảo cán bộ đảng viên và quân dân miền Nam đều cảm thấy khó chịu, trăn trở, phê bình nhau: “Tại sao giặc Mỹ hỗn láo đánh miền Bắc mà ta trừng trị kém như vậy?”

Nhưng do thực lực của quân kháng chiến miền Nam lúc đó vẫn đang trong quá trình phục hồi, xây dựng, hoàn thiện lại kể từ chiến dịch Mậu Thân, không còn mạnh như trước Mậu Thân 1968, và lục quân Mỹ vẫn còn đầy đủ ở đây, nên miền Nam lúc đó không dễ mở những chiến dịch quân sự lớn, mà chủ yếu đánh du kích. Tuy nhiên, các lực lượng biệt động, dân quân – tự vệ Sài Gòn đã có những trận đánh vào Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, một số nơi có Mỹ-ngụy ở Sài Gòn, để phục thù cho đồng bào miền Bắc.

Trong 12 ngày đêm xâm phạm không phận và tung hoành trên vùng trời Hà Nội, lực lượng không quân thiện chiến của Mỹ đã ném xuống hơn 36.000 tấn bom. Không quân Mỹ đã dội bom bừa bãi vào nhà cửa, nhà thương, nhà máy, trường học, di tích lịch sử, đền thờ, nhà thờ, chùa chiền v.v. Những đợt tấn công này đã gây thương vong cho hàng chục ngàn dân lành, hủy diệt hoàn toàn hàng ngàn nhà dân và hàng trăm trường học, bệnh viện, rạp hát, chùa miếu, di tích lịch sử…. Tại Hà Nội, khu phố Khâm Thiên hoang tàn nhất, bị hủy diệt hoàn toàn.

Tất cả số nhà máy điện đều bị đánh phá gây thiệt hại nặng, 1.500/1.600 công trình thủy lợi và gần 100 km đê xung yếu bị hư hại; Hầu hết cầu cống quan trọng và toàn bộ 6 tuyến đường sắt đều bị đánh hỏng; 3/6 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên) và 23/30 thị xã, 96/116 thị trấn, 3.987/5.788 xã, 350 bệnh viện, gần 1.500 bệnh xá, 1.300 trường học bị tàn phá nặng nề; trong đó có 12 thị xã, hơn 300 xã, 10 bệnh viện, 11 ga xe lửa đầu mối bị hủy diệt hoàn toàn.

B-52 được xem là một “bửu bối” không thể chiến bại của không lực Hoa Kỳ. Tên chính thức của nó là “Pháo đài chiến lược Boeing B-52”, là một loại máy bay oanh tạc chiến lược phản lực. Do giá thành tốn kém (53,4 triệu USD mỗi chiếc, theo thời giá năm 1972) và số lượng khiêm tốn (từ xưa tới nay chỉ có 744 chiếc được sản xuất), nên nó chỉ được dùng để thả các vũ khí quy ước trong các cuộc chiến tranh thực tế. B-52 là loại máy bay ném bom có tầm bay xa không cần tiếp nhiên liệu dài nhất trong các loại máy bay trên thế giới, và mang được nhiều tấn vũ khí nhất, đến 27 tấn vũ khí.

Với tầm bay cao, được bảo vệ bởi nhiều máy bay tiêm kích và hệ thống gây nhiễu điện tử hiện đại, có thể nói B-52 là một pháo đài bay không thể bị bắn trúng. Đặc biệt, nhiễu điện tử của không quân Mỹ như một bức màn chắn đã gây khó khăn lớn cho bộ đội phòng không.

Chiến dịch ném bom vô nhân đạo này đã bị phản đối quyết liệt khắp thế giới, kể cả những nước đồng minh lâu năm, thân cận của Hoa Kỳ, dư luận nhiều nước gây áp lực để chính phủ của mình chính thức lên án cuộc ném bom. Báo Le Monde (Paris, Pháp) so sánh cuộc ném bom này với cuộc ném bom hủy diệt Guernica do Đức Quốc Xã thực hiện ở Tây Ban Nha. Tờ báo lớn nhất của Anh, the Daily Mirror, bình luận: “Việc Hoa Kỳ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ”.

Các chính phủ Anh, Ireland, Ý và Thụy Điển đều lên tiếng. Một trong những phản ứng dữ dội nhất là của thủ tướng Thụy Điển Olof Palme, ông đã lên án cuộc ném bom là một tội ác chống nhân loại trên quy mô ngang với các tội ác diệt chủng kiểu phát xít Đức. Ông còn đích thân đến một cửa hàng tổng hợp để thu thập chữ ký cho một kiến nghị toàn quốc đòi chấm dứt ném bom, để gởi tới tổng thống Mỹ Richard Nixon.


Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme dẫn đầu đoàn biểu tình đòi Mỹ chấm dứt ném bom Việt Nam.

Tại Hoa Kỳ, nhiều thành phần diều hâu từng ủng hộ cuộc ném bom trong chiến dịch Linebacker I, bây giờ chất vấn cả sự cần thiết và tính tàn bạo nghịch thường của Linebacker II. Mười sáu phi công đã gởi đơn khiếu nại lên Bộ chỉ huy xin không bay; 45 gia đình gởi thơ chất vấn về trạng thái tinh thần phi công. Nhiều nơi đã xảy ra binh biến, nội loạn trong quân đội Mỹ.


Bất chấp những cuộc trấn áp, thảm sát tại Đại học Tiểu bang Kent và các thành phố ở California trước đó, nhân dân và sinh viên Mỹ vẫn xuống đường biểu tình đòi chính phủ chấp nhận ký vào hiệp định Paris.

Sau 12 ngày đêm quyết chiến, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay ném bom chiến lược B-52, và số phận của chiến dịch Linebacker II đã được định đoạt, cường độ tập kích của B-52 giảm hẳn, B-52 dạt ra đánh Thái Nguyên và các mục tiêu hạng hai để tránh “tọa độ lửa” Hà Nội, Hải Phòng…. Tổng thống Nixon ra tín hiệu đề nghị nối lại đàm phán và ngày 30 tháng 12 đã ra lệnh chấm dứt chiến dịch ném bom, quay lại đàm phán tại Paris và chấp nhận phương án cũ của hiệp định Paris mà phía Mỹ trước đó đã từ chối ký kết.

Sau trận này, khí thế của quân dân Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc dâng lên rất cao. Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới đánh bại được “thần tượng B-52”. Và sau năm 1975 đến nay, với khoa học kỹ thuật công nghệ quân sự thế giới tiên tiến hơn, cũng vẫn chỉ có 1 máy bay B-52 bị bắn hạ trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991.

Tham khảo thêm: Hùng ca Điện Biên Phủ trên không và những thế cờ chiến lược

 

Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1968-1973-1975)

Sau khi thất bại trong chiến lược chiến tranh cục bộ, đặc biệt sau chiến dịch Mậu Thân, gần như cả thế giới, trong đó có cả nhân dân Mỹ thúc ép chính phủ Mỹ sớm đưa lính Mỹ, đưa người thân của họ về nước.

Những thất bại quân sự và chính trị của Mỹ trong thời gian này đã tác động mạnh đến tình hình Liên bang Hoa Kỳ, tổng thống Richard Nixon trong ngày nhậm chức tổng thống Mỹ đã phải than rằng: “Nước Mỹ đang có khủng hoảng về tinh thần, mắc kẹt trong chiến tranh, cấu xé và chia rẽ nội bộ. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra căng thẳng gay gắt với nước Mỹ không riêng về mặt kinh tế, quân sự mà cả xã hội cũng như chính trị. Sự bất đồng cay đắng đã xé rách cơ cấu đời sống tinh thần nước Mỹ và bất kể kết quả chiến tranh như thế nào, vết xé rách vẫn còn lâu mới lành”.

Để cứu vãn tình hình bi đát của Mỹ trong khi các lực lượng chiến đấu của họ ngày càng lún sâu vào trong “vũng lầy Việt Nam” và ngày càng có nhiều lính Mỹ chết trận, tổng thống Nixon sau nửa năm cầm quyền đã đề ra chiến lược De-Americanization (Phi Mỹ hóa) các hoạt động quân sự trên chiến trường Việt Nam.

Ban đầu Nixon và các nhà lãnh đạo Mỹ định dùng danh từ De-Americanization. Nhưng sau đó bộ trưởng quốc phòng Melvin Laird cho rằng danh từ này đã gián tiếp thừa nhận việc Hoa Kỳ đã xâm lược Việt Nam, thú nhận lộ liễu vai trò đầu não, trung tâm, và trách nhiệm chính của họ trong cuộc chiến. Do đó, ông đề nghị dùng một danh từ nào đó không nhắc gì đến Mỹ. Theo đó, cái tên mới “lờ Mỹ sang một bên” là Vietnamization (Việt Nam hóa) đã được sử dụng.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin R. Laird khi đó đã miêu tả chính sách này trong tài liệu công khai của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ như sau: Expand, equip, and train South Vietnam’s forces and assign to them an ever-increasing combat role, at the same time steadily reducing the number of U.S. combat troops. (Phát triển, trang bị, và huấn luyện quân đội Nam Việt Nam và phân công họ ngày càng nhiều vai trò chiến đấu hơn, đồng thời đều đặn giảm bớt số lượng của quân nhân chiến đấu Mỹ.)

Việt Nam hóa chiến tranh nói chung là sự tiến hành chiến tranh bằng người Việt Nam, nói cụ thể hơn là một chiến lược chiến tranh của Hoa Kỳ nhằm từng bước chuyển giao lại vai trò thực hành quân sự cho đại quân ngụy, từng bước biến các cuộc chiến giữa người Mỹ và người Việt thành giữa người Việt với nhau, dùng người Việt đánh người Việt, “thay màu da trên xác chết”(nghĩa là thay xác chết da trắng bằng xác chết da vàng, nguyên bản câu nói của đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker, làm việc ở Việt Nam từ năm 1967 đến 1973, về chương trình Việt Nam hóa chiến tranh là: “Thay đổi màu xác chết”). Đại quân Sài Gòn bị đẩy ra thực hành chiến tranh thay cho Mỹ. Tương tự chiến lược (Da) vàng hóa chiến tranh mà Pháp đã thực hiện từ năm 1949 trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Chiến lược chiến tranh Việt Nam hóa, về mặt chính trị, là một quá trình từng bước chuyển cuộc chiến tranh xâm lược có vài yếu tố của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ (chính quốc chỉ huy, huấn luyện, xây dựng, phát triển ngụy quân, như trong thời Pháp thuộc và kháng chiến chống Pháp) trong giai đoạn chiến tranh đặc biệt, và có nhiều yếu tố của chủ nghĩa thực dân cũ (chính quốc trực tiếp chiến đấu và quản lý, tự đánh, tự làm, như thời Pháp thuộc và kháng chiến chống Pháp) trong chiến tranh cục bộ, sang một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới đúng nghĩa hơn (ngụy quân tự quản về thực hành quân sự, chính quốc chỉ đóng vai trò lãnh đạo chung, kiểm soát chính trị và ngoại giao, trang bị, cung cấp, nuôi dưỡng, đứng sau chống lưng và giám sát, kiểm soát từ bên ngoài).

Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh mà Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam thực tế có 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu là từ năm 1968 đến năm 1973. Giai đoạn này được gọi chính xác là quá trình Việt Nam hóa chiến tranh. Và trong quá trình này thì vẫn còn yếu tố quân sự Mỹ và vẫn còn các yếu tố quân sự của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ (chính quốc chỉ huy và tham chiến).

Giai đoạn sau năm 1973 đến 1975 là giai đoạn kết thúc chiến tranh, là giai đoạn chiến lược “đánh cho ngụy nhào” theo lời dặn của Bác Hồ. Đây là giai đoạn quân dân Việt Nam đấu tranh chống sản phẩm dở dang của Việt Nam hóa chiến tranh, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới đúng nghĩa hơn (Mỹ không còn trực tiếp tham gia quân sự, mà chỉ đóng vai trò trang bị, cung cấp, giám sát và lãnh đạo cuộc chiến về mặt chính trị), không còn các yếu tố của chủ nghĩa thực dân kiểu cổ điển (chính quốc chỉ huy, quản lý, trực tiếp đánh).

Việt Nam hóa chiến tranh còn là một chương trình từ Học thuyết Nixon, do tổng thống Mỹ Richard Nixon đề ra để thay cho chiến lược chiến tranh cục bộ của người tiền nhiệm Lyndon B. Johnson vốn đã phá sản. Loại hình chiến tranh này trong thời kỳ đầu vẫn có sự phối hợp của một bộ phận đáng kể lực lượng chiến đấu Mỹ và vẫn do Mỹ chỉ huy bằng hệ thống “cố vấn”. Rồi về sau quân viễn chinh Mỹ và đồng minh mới rút dần khỏi chiến trường, đồng thời tăng cường ngụy quân bản xứ để giảm thương vong cho người Mỹ trên chiến trường. Thực hiện chiến lược “dùng người Việt đánh người Việt”.

Ngày 18 tháng 2 năm 1970, tổng thống Richard Nixon công bố 3 giai đoạn của chính sách Việt Nam hóa chiến tranh:

  • Hoàn thành ba bước chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, rút dần Lục quân Hoa Kỳ ra khỏi chiến trường Việt Nam.
  • Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, xây dựng, trang bị, hoàn thiện quân đội này để nó đủ khả năng chiến đấu ngang sức với Việt Cộng và Bắc Việt, giữ vững được Nam Việt Nam trong tầm kiểm soát của Hoa Kỳ, bán đảo Đông Dương trong quỹ đạo của Hoa Kỳ, và khu vực Đông Nam Á trong tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
  • Hoàn tất những mục tiêu còn lại. Củng cố kết quả đã đạt được.

Trong ba giai đoạn đó, theo Nixon và giới quân sự Mỹ, giai đoạn 1 (dự kiến thực hiện từ năm 1969 đến giữa năm 1972) là giai đoạn quan trọng nhất được chia làm 3 bước thực hiện:

  • Từ năm 1969 đến giữa năm 1970: Bình định một số vùng đông dân quan trọng. Xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở Việt Cộng. Rút một số đơn vị chiến đấu Hoa Kỳ ra khỏi chiến trường Việt Nam. Khống chế và đẩy lùi quân Việt Cộng, làm cho Việt Cộng không hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên.
  • Từ giữa năm 1970 đến giữa năm 1971: Bình định được tất cả các vùng đông dân quan trọng. Phân tán nhỏ lực lượng Việt Cộng, khiến họ không hoạt động được từ cấp đại đội trở lên ở những vùng căn cứ. Hoàn thành kế hoạch hiện đại hóa quân đội Việt Nam Cộng hòa, rút phần lớn quân đội Hoa Kỳ về nước.
  • Từ giữa năm 1971 đến giữa năm 1972: Cơ bản bình định xong cả miền Nam. Lực lượng vũ trang cộng sản Nam Việt Nam không còn hoạt động được ở các vùng căn cứ trên biên giới Lào, Campuchia, quân đội Việt Nam Cộng hòa đủ sức đương đầu với quân đội cộng sản Bắc Việt Nam. Rút lực lượng chiến đấu trên bộ của Mỹ về nước, chỉ duy trì các sĩ quan “cố vấn” quân sự với vai trò chỉ huy tác chiến.

Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, Hoa Kỳ đề ra 5 biện pháp:

  • Xây dựng quân đội Việt Nam Cộng hòa thành một lực lượng mạnh, hiện đại, đủ năng lực giao tranh ngang sức với lực lượng vũ trang Bắc Việt và Việt Cộng.
  • Củng cố chính quyền các cấp của Việt Nam Cộng hòa, tăng cường viện trợ kinh tế.
  • Tập trung toàn lực hoàn thành chương trình bình định, hành quân sang Lào và Campuchia để tấn công các căn cứ Việt Cộng tại đây.
  • Tập hợp liên minh chống cộng khu vực, biến miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống cộng cho Hoa Kỳ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
  • Chặn đứng các nguồn tiếp tế cho cộng sản miền Nam, xúc tiến hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập Việt Cộng.

Thời kỳ đầu của giai đoạn Phi Mỹ hóa – Việt Nam hóa chiến tranh, bộ binh Mỹ còn giữ vai trò chiến đấu chính. Quân Mỹ và đồng minh trong năm đầu (1969) đạt đến con số cao nhất trong giai đoạn chiến lược mới này, với hơn 50 vạn quân Mỹ và 7 vạn quân đồng minh, là chỗ dựa của quân ngụy và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Quân ngụy Sài Gòn lúc này thường bị Mỹ đưa ra phía trước và sử dụng như một lực lượng xung kích đi đầu đánh tiên phong.

Đây cũng là giai đoạn Việt Nam và Hoa Kỳ “vừa đánh vừa đàm”. Đánh nhau trên chiến trường Đông Dương, chiến sự lan rộng ra cả Lào và Campuchia, và đàm phán với nhau trong hội nghị Paris về Việt Nam. Trong những năm đầu chống chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, lực lượng cách mạng có những tổn thất và khó khăn, một mặt do giặc gây ra, mặt khác do phía Việt Nam chủ quan trong việc đánh giá địch, chậm trễ trong việc đề ra các biện pháp đối phó hữu hiệu.

Nhưng các khó khăn của Việt Nam đã từng bước được khắc phục. Thắng lợi chính trị mở đầu giai đoạn chống chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh là sự ra đời của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, với vai trò của một chính phủ tạm thời đại diện hợp pháp của người dân miền Nam Việt Nam. Vừa ra mắt đồng bào và quốc tế thì Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được 23 quốc gia công nhận, trong đó có 21 quốc gia đặt quan hệ ngoại giao.

Thực hiện lời chúc Tết năm 1969 của Bác Hồ: “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, và di chúc của Người để lại trước khi qua đời, quân dân ba miền Việt Nam đã cố gắng biến đau thương thành sức mạnh, ra sức chiến đấu chống Mỹ cứu nước.

Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập

Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, thời đó còn được một số người gọi là chính phủ Tây Ninh, là một chính thể cách mạng lâm thời do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập vào năm 1969, sau khi Mỹ thực hiện kế hoạch “Phi Mỹ hóa – Việt Nam hóa chiến tranh”, đây là chủ bài của Việt Nam để đối phó với quân bài “Việt Nam Cộng hòa” của Mỹ trên bình diện pháp lý quốc tế, đặc biệt trong trường hợp Mỹ muốn “lấy thịt đè người”, dùng ngụy quyền của mình để ngụy tạo “số đông” 2 chọi 1 trên bàn đàm phán trong hội nghị Paris về Việt Nam.


Quân Giải phóng đi qua cầu khỉ

Miền Nam có vùng giải phóng thuộc quyền kiểm soát, quản lý của Việt Nam, và vùng tạm chiếm thuộc quyền kiểm soát của Mỹ và quản lý danh nghĩa của các ngụy quyền địa phương. Thực trạng này ở miền Nam Việt Nam được người Mỹ gọi là “mảnh da báo”.

Xuất phát từ thực trạng đó, một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh chống xâm lược Mỹ ở Việt Nam đã bắt đầu với việc ra mắt Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào năm 1969.

Nhà nghiên cứu sử học người Mỹ gốc Nga L.V. Kotov trong bài nghiên cứu American Aggression in Vietnam (Cuộc xâm lược của Mỹ ở Việt Nam) trên Bách khoa thư Farlex, đã viết về sự thành lập này như sau: “Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế cần một chính phủ thống nhất tạm thời ở miền Nam để thay thế cho các chính quyền dân cử địa phương, các cơ quan tự quản từ các cấp xã, thôn, tỉnh, vốn trước đó đã được dân địa phương thành lập để thay thế các bộ phận hành chính con rối của Mỹ, để giải quyết việc hành chính trong những vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

Như vậy Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập từ nhu cầu thực tế của quân dân miền Nam, chứ không hẳn chỉ là một giải pháp, nghệ thuật, đòn phép chính trị như kiểu Pháp – Mỹ thành lập các chính quyền tay sai của họ.

Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ra Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch, Hội đồng Cố vấn Chính phủ do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch. Tháng 6/1969 đến tháng 11/1975 đã có 23 nước công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước đã đặt quan hệ ngoại giao.

Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam có cả quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam. Chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam được tổ chức ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và thành phố, cấp huyện và cấp xã. Các cấp địa phương đều có Hội đồng nhân dân cách mạng và Ủy ban nhân dân cách mạng.


Giấy bạc Việt Nam in ấn trong vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

1. Cuộc nổi dậy xuân Kỷ Dậu 1969

Đúng 180 năm sau chiến thắng lịch sử xuân Kỷ Dậu 1789 của vua Quang Trung trước giặc Thanh xâm lược, quân Giải phóng đã noi gương quân Tây Sơn, tiến hành một cuộc tấn công đồng loạt vào hơn 400 mục tiêu của giặc Mỹ ở miền Nam Việt Nam.


Thơ Chúc Mừng Năm Mới của Bác Hồ năm 1969 do Ban Tuyên huấn Sóc Trăng in và phát hành rộng rãi trong nhân dân thời bấy giờ

Xuân Kỷ Dậu 1969, quân dân miền Nam Việt Nam đã mở đợt tổng tấn công đồng loạt vào trên 400 mục tiêu của Mỹ ở 36 thành phố, thị xã, hơn 100 quận lỵ, thị trấn, 35 sở chỉ huy, 38 sân bay, 17 khu hậu cần lớn.

Sau hơn 1 tháng chiến đấu, quân dân miền Nam đã gây thương vong cho hơn 5 vạn lính Mỹ và hơn 4 ngàn lính đồng minh của Mỹ, trong đó đa phần là lính Hàn Quốc; tiêu diệt và làm tiêu hao nặng 35 tiểu đoàn và đơn vị hỗn hợp ngang tiểu đoàn, 160 đại đội Mỹ-ngụy và đồng minh; bắn rơi và phá hủy khoảng 1.600 máy bay các loại, phá hủy khoảng 2.900 xe quân sự; bắn chìm và bắn cháy 275 tàu, xuồng chiến đấu; phá hủy khoảng 530 khẩu pháo và súng cối; thiêu hủy và phá nổ khoảng 270 kho bom đạn, xăng dầu và phương tiện chiến tranh v.v. Ngoài hoạt động quân sự, Đảng bộ và người dân còn nổi dậy phá ách kìm kẹp, giành chính quyền ở nhiều ấp, xã trong tỉnh.

Thắng lợi to lớn và toàn diện của quân dân miền Nam trong những ngày đầu xuân Kỷ Dậu 1969 đã giáng những đòn khá đau vào chiến lược tác chiến Quét và Giữ của tổng tư lệnh liên quân mới Creighton Abrams, vào kế hoạch “bình định cấp tốc” của Mỹ-ngụy, và làm cho ngụy quân, ngụy quyền càng xuống tinh thần và ý chí xâm lược của người Mỹ vốn đã rất lung lay sau chiến dịch Mậu Thân, nay lại càng lung lay hơn.

2. Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào

Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào là một chiến dịch của quân Giải phóng nhằm chống lại cuộc hành quân năm 1961 của Mỹ-ngụy mà báo chí Sài Gòn gọi là “chiến dịch Lam Sơn 719” hay “chiến dịch Hạ Lào”. Nó là một chiến dịch quân sự của Mỹ-ngụy theo công thức bộ binh ngụy – vũ khí Mỹ – không yểm và hỏa lực Mỹ. Chiến dịch này do quân ngụy trực tiếp đi đầu tham chiến dưới sự yểm trợ hỏa lực từ không quân và pháo binh Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ đã đưa lính ngụy xuống vùng rừng thiêng nước độc Hạ Lào với hai mục tiêu:

  • Phá vỡ hệ thống hậu cần của quân đội Việt Nam tại Lào, công phá và cắt đứt đường vận tải chiến lược tại khu vực đường 9 và thị trấn Tchepone nằm cách biên giới Việt – Lào 42 km về phía Tây.
  • Thử nghiệm khả năng tự chiến đấu của quân ngụy trong một trận đánh không có bộ binh Mỹ, và trong tình huống Mỹ tiếp tục rút quân dần ra khỏi chiến trường Việt Nam. Đây là một thử nghiệm về chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và năng lực tự thân tác chiến của ngụy quân, thử xem họ có biết đánh, có đánh được hay không.

Nói chung, người Mỹ đưa quân ngụy vào khu vực “đất thánh cộng sản” này và cho lính ngụy đánh thử là để đem lính ngụy ra làm “thí nghiệm”, sau đó quan sát, đánh giá xem lính ngụy có biết đánh, có đánh được hay không.

Kết quả khi không có bộ binh Mỹ thì bao nhiêu “trình độ” và sự vô dụng, yếu ớt của quân đội ngụy bộc lộ ra hết, cộng với sự chiến đấu khéo léo biết tận dụng địa hình địa lợi của quân Giải phóng, cũng như phong thổ thất thường, địa lý hiểm trở của vùng rừng thiêng nước độc Hạ Lào, nơi được nhiều người gọi là “vùng đất chết”, nên chiến dịch này dù cho có tướng Mỹ James W. Sutherland, Jr. chỉ huy không yểm và pháo binh yểm trợ, vẫn trở thành một thảm họa đối với quân ngụy. Quân ngụy đã bị tổn thất nặng, hơn 2 vạn quân bị loại khỏi vòng chiến, làm suy sụp tinh thần Mỹ-ngụy. Việt Nam hóa chiến tranh, chiến lược mà nhiều quan chức Mỹ coi là phương cách tốt nhất để Mỹ hoàn thành rút quân, đã có những thất bại ban đầu.


Quân ngụy tháo chạy sau khi bị quân Giải phóng đánh bại trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Công thức tác chiến “bộ binh ngụy – vũ khí Mỹ – không lực và hỏa lực Mỹ” đã phá sản trong sự kiện Hạ Lào 1971.

Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào còn đánh dấu bước phát triển mới của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong chiến dịch này, quân Giải phóng đã bỏ chiến thuật du kích và tiến hành phản công theo kiểu chiến tranh quy ước, nâng chiến tranh du kích lên chiến tranh cách mạng, quân Giải phóng đã mở các đợt tấn công lớn bằng bộ binh với yểm trợ của thiết giáp và pháo binh hạng nặng để đè bẹp các vị trí của quân ngụy. Sự hiệp đồng tác chiến ăn ý của hỏa lực phòng không đã khiến cho sự yểm trợ không quân chiến thuật và tăng viện bằng không quân của Mỹ bị vô hiệu hóa.

Quân Giải phóng đã dự đoán sẵn một nỗ lực quân sự tiếp theo tất yếu của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, và bày binh bố trận chờ giặc. Trong thời gian đầu của chiến dịch, quân Giải phóng còn cố gắng tìm cách giấu lực lượng để dụ địch tiến sâu vào trận địa phía Tây, chỉ đến khi không còn giữ được bí mật, mới tiến hành trận đánh đại phá bản Đông, cho thấy quân ngụy thất bại “từ trong trứng”. Hoặc theo một cách lập luận khác, ngụy quân đã biết chắc thất bại nhưng vẫn phải đi vào vùng “đất chết” vì những lý do chính trị, vì đó là ý của Mỹ, như lời của ông Nguyễn Văn Thiệu: “Chỉ cần đến Tchepone rồi về”.

Đó cũng là nguyên nhân trong chiến dịch này các đơn vị lính ngụy thiện chiến nhất trong quân trường Mỹ-ngụy đều hầu như không có tinh thần chiến đấu, như là một bầy chuột bạch thí nghiệm, bị ông chủ xua, lùa, đẩy xuống vực sâu mà vẫn phải đi vì không có sự chọn lựa nào khác.


Tại Việt Nam, quân xâm lược thường gọi ngụy binh là “đồng minh” và chiến đấu nhân danh “bảo vệ đồng minh”. Nhưng kẻ “được bảo vệ” sẽ phải ra trận ở vị trí nguy hiểm nhất, còn “người bảo vệ” sẽ ở vị trí an toàn hơn.

Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào cũng đã vĩnh viễn làm thay đổi kỹ thuật quân sự Hoa Kỳ và thế giới. Trước đây, chiến thuật Trực thăng vận thật ra đã bộc lộ phần nào nhược điểm, bị quân Việt Nam “bắt bài”, song chưa có gì rõ ràng lắm, nhưng đến chiến dịch này nhược điểm của Trực thăng vận đã thể hiện rõ trong một chiến dịch đại bại ấn tượng.

Lúc này thực tế chiến trường Việt Nam đã đưa đến những mâu thuẫn trong Bộ quốc phòng Mỹ và giới quân sự quốc tế về xu hướng hiện đại hóa kỹ thuật quân sự. Người thì cho rằng xe tăng mới là vua chiến trường, người khác lại cho rằng trực thăng vũ trang vẫn là bà chúa chiến trường. Chiến dịch Đường 9 Nam Lào sau này đã được giới khoa học quân sự Mỹ nghiên cứu kỹ càng, và đã nhìn nhận lại vị trí, vai trò của trực thăng vũ trang. Tờ Người Quan Sát Mới (Pháp) ngày 29/3/1971 bình luận: “Ý nghĩa sâu sắc của cuộc hành quân Lam Sơn 719 là chỉ ra thất bại lớn đầu tiên của loại máy móc từ trước đến nay vẫn được giới quân sự Mỹ dương dương tự đắc trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam – đó là máy bay trực thăng”.

Kể từ sau cuộc hành quân Hạ Lào và sau Chiến tranh Việt Nam, từ đó về sau trực thăng quân sự được sử dụng ở tiền tuyến là loại máy bay chở ít người, bọc giáp tốt, chống tăng tốt, gọi là “trực thăng tấn công”. Những loại có vỏ giáp mỏng và vũ trang yếu được lùi về tuyến sau để tham gia vận tải là chính. Ngày nay trực thăng không còn được sử dụng như xe bọc thép chở quân nơi tiền tuyến, chiến thuật Trực thăng vận lừng danh một thời của Mỹ đã bị quân dân Việt Nam làm cho “thất truyền”.

Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào cũng làm nổi nên vấn đề tồn tại từ lâu trong nghệ thuật pháo binh về pháo 175 mm tự hành nòng dài tầm xa (M107). Pháo được sơn dòng chữ “vua chiến trường” trên nòng do tầm bắn xa và uy lực cực mạnh, nhưng không được bọc thép trong chiến đấu, cồng kềnh không tiện cho cơ động – trú ẩn, tốc độ bắn chậm, kém chính xác do tính toán và định vị yếu. Do vậy khi đấu pháo, M107 không chống lại được kiểu pháo xe kéo M-46 130mm dù có tầm bắn xa và sức công phá của đạn mạnh hơn. Ngày nay pháo này không còn được Hoa Kỳ sử dụng, được coi như một loại vũ khí phát triển chưa hoàn chỉnh.

3. Chiến dịch Xuân – Hè

Năm 1972, Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Xuân – Hè (người Mỹ gọi là Easter Offensive), kéo dài đến đầu năm 1973. Đây là cuộc hiệp đồng tấn công chiến lược bằng các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng tác chiến, tấn công sâu vào các hướng quan trọng của giặc. Nhóm chiến dịch Xuân – Hè 1972 bao gồm 3 chiến dịch nhỏ hơn:

  • Chiến dịch Trị – Thiên ở hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế.
  • Chiến dịch Bắc Tây Nguyên tại Đắc Tô, Tân Cảnh, Kon Tum.
  • Chiến dịch Nguyễn Huệ – chiến dịch giải phóng Lộc Ninh, Bình Long và dọc đường 13, miền Đông Nam Bộ.


Sơ đồ tiến công của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Xuân – Hè 1972

Ngày 30/3/1972, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch giải phóng Quảng Trị (chiến dịch Trị – Thiên) với hai sư đoàn 304 và 308. Quân đội Nhân dân Việt Nam từ miền Bắc có khoảng 3 vạn quân, cùng với khoảng 15 vạn quân Giải phóng ở miền Nam, theo đường 9 từ Lào vượt qua Khe Sanh, tiến vào thung lũng sông Thạch Hãn.

Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải phóng nhanh thị xã Quảng Trị và Thành cổ, tiến đến bờ bắc sông Mỹ Chánh, uy hiếp Mỹ-ngụy ở Thừa Thiên-Huế. Mỹ-ngụy huy động gần như toàn bộ lực lượng dốc sức cướp lại Quảng Trị với công thức “bộ binh ngụy – vũ khí Mỹ – “cố vấn” Mỹ – không quân Mỹ – hải quân Mỹ – hỏa lực Mỹ”“ngụy lên trước – Mỹ đứng sau”. Hỏa lực và không yểm Mỹ bao gồm pháo hạm từ Hạm đội 7 và hơn 100 máy bay ném bom chiến lược B-52 và hơn 1 ngàn máy bay khác, liên tục dội bom, bắn phá QĐNDVN.

Do lâm vào thất thế và muốn chiếm lại Quảng Trị bằng mọi giá, Mỹ-ngụy đã rút quân bỏ ngỏ nông thôn, huy động hầu hết các lực lượng chủ lực chiếm lại những vùng đã mất, và huy động hầu hết các lực lượng trừ bị để giữ các thị xã khác. Nhân cơ hội đó, các lực lượng võ trang địa phương của Quân Giải phóng miền Nam đã mở các cuộc tấn công tại đồng bằng sông Cửu Long và quanh Sài Gòn, gây tổn thất lớn cho giặc.

Trận đánh 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị đã diễn ra vô cùng ác liệt và bi tráng, quân ngụy dưới sự đôn đốc và yểm trợ hỏa lực của Mỹ đã xông lên như những con thiêu thân không khác “chiến thuật biển người”, Mỹ kết hợp pháo hạm trên biển, pháo trên bộ, và pháo đài bay từ trên không, dùng B-52 ném bom rải thảm, huy động bộ binh, lính Dù, Thủy quân Lục chiến ngụy tấn công dữ dội nhằm đánh bại trung đoàn 27 QĐNDVN, tái chiếm Thành cổ.

Từ 28/6/1972 đến 16/9/1972, trải qua 81 ngày đêm để chiếm Thành cổ Quảng Trị rộng 16 ha và cả thị xã Quảng Trị hơn 3 km2, Mỹ đã trút xuống đây hơn 328.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử. Hơn 80% thương vong của Quân đội Nhân dân Việt Nam là bởi các đợt oanh tạc và pháo kích của Mỹ, chỉ có một phần nhỏ là trong các cuộc đọ súng bộ binh với binh lính ngụy. Trung đoàn 27 QĐNDVN đã quyết bám đất chiến đấu đến những viên đạn cuối cùng và đến những người cuối cùng. Khi thoát ra ngoài cả một trung đội chỉ còn là một tiểu đội, chỉ còn khoảng 10 người sống sót. Thành cổ hầu như không còn nguyên vẹn, khắp nơi đầy máu người và vết bom đạn.

Sau đó, cuộc chiến tiếp diễn ở bờ bắc sông Thạch Hãn, tướng Creighton Abrams mở cuộc hành quân Tangocyti nhưng bị tổn thất nặng và không thu được kết quả nào. Quân đội Nhân dân Việt Nam không giữ được Thành cổ Quảng Trị, nhưng Mỹ-ngụy sau khi chiếm lại Thành cổ cũng đã kiệt quệ, không còn đủ sức chiếm lại Đông Hà và cảng Cửa Việt. Về quân sự, chiến thuật, QĐNDVN đã giành thêm được đất. Về chính trị, chiến lược, thì chiến dịch này góp phần dồn ép Hoa Kỳ vào thế yếu trong hội nghị Paris về Việt Nam.

Cũng vào ngày 30/3/1972, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công vào khu vực phía bắc Tây Nguyên, các trận chiến diễn ra đẫm máu ở ven sông Poko, Đắc Tô – Tân Cảnh, thị xã Kon Tum. Ngày 9/6/1972, quân Giải phóng giết được trung tá John Paul Vann ở khu B1-Gia Lai. Chiến dịch Bắc Tây Nguyên kết thúc, QĐNDVN giải phóng được Đắc Tô – Tân Cảnh.

Ngày 31/3/1972, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành chiến dịch Nguyễn Huệ ở miền Đông Nam Bộ nhằm giải phóng một phần các tỉnh Bình Long, Phước Long, Tây Ninh làm nơi đóng trụ sở của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và làm bàn đạp uy hiếp cơ sở đầu não của giặc ở Sài Gòn từ hướng Bắc và Tây Bắc.

Các trận đánh đã nổ ra quyết liệt ở Lộc Ninh, Xa Mát, Phước Bình, An Lộc, Đường 13. Cuối cùng, sư đoàn 7 Quân Giải phóng miền Nam tiến sâu xuống vùng trung tuyến, hiệp đồng tác chiến với lực lượng nổi dậy địa phương tiến công quân ngụy ở Bắc Bình Dương và Phú Hòa Đông, Củ Chi, đánh bại giặc, tiêu diệt chiến đoàn 8 của ngụy quân. Ngày 19/1/1973, sau 10 tháng ròng rã chiến đấu, chiến dịch Nguyễn Huệ đã kết thúc, quân Giải phóng thành công lập nên thế trận “da báo” ở miền Đông Nam Bộ, tạo ra sức mạnh và uy thế lớn trong hội nghị Paris về Việt Nam.


Một ví dụ sinh động về công thức “bộ binh ngụy – vũ khí Mỹ – không lực và hỏa lực Mỹ” được người Mỹ thực hiện trong quá trình Việt Nam hóa chiến tranh. Lưu ý bộ binh dễ chết hơn gấp nhiều lần không quân trên trực thăng.

Mỹ rút đại quân và phá hoại hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh, tổ chức bầu cử thành lập chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam

Cuộc hội nghị ở Paris giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là để có được một giải pháp hòa bình, kết thúc chiến tranh ở Việt Nam. Ban đầu chỉ có đàm phán 2 bên là Việt Nam và Hoa Kỳ, về sau phát triển thành hội nghị 2 phía (Việt Nam, Hoa Kỳ) và 4 bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn).


Ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger sau khi ký hiệp định Paris 1973

Bản chất của hội nghị Paris ban đầu là để đôi bên đạt được mục đích tối cao của mình. Việt Nam muốn “Mỹ cút ngụy nhào”. Mỹ thì muốn có toàn quyền sinh sát ở miền Nam Việt Nam, quân đội Việt Nam phải rút về Bắc, lực lượng kháng chiến miền Nam bị giải tán.

Đến năm 1972, trước sự thắng thế của Việt Nam và sự thất thế, sa lầy của Hoa Kỳ, mục tiêu của họ lúc này là rút quân yên lành, giữ cho được và củng cố ngụy quyền. Như vậy, thực tế lúc này Việt Nam và Hoa Kỳ đã có một điểm chung quan trọng, đó là cả hai đều muốn quân đội viễn chinh rút khỏi. Và Việt Nam đã tạo điều kiện cho Mỹ làm việc đó.

Cả hai phía đều nhượng bộ vấn đề chấp nhận sự tồn tại của 2 chính quyền ở Tây Ninh và Sài Gòn như một thực thể chính trị ở miền Nam Việt Nam. Điều này không có nghĩa là Việt Nam công nhận sự chính danh của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu với tư cách là một quốc gia, nhà nước. Lập trường ban đầu là hai phía Việt – Mỹ đều không chấp nhận sự tồn tại “đồng minh” của nhau và yêu cầu “đồng minh” đó phải giải tán vô điều kiện.

Mỹ chấp nhận rút quân và đề nghị Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam Việt Nam cũng làm điều đó. Song Việt Nam luôn có nguyên tắc bất biến: Người Việt Nam có quyền đi đến bất kỳ nơi đâu trên đất nước Việt Nam, bác bỏ lời đề nghị rút quân của Mỹ. Đây là vấn đề mà Việt Nam coi là một vấn đề mang tính nguyên tắc và không nhượng bộ, thậm chí không chấp nhận bàn về vấn đề đó. Và chiến dịch Linebacker II nổ ra là tất yếu, Mỹ muốn ép Việt Nam phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, để Mỹ rảnh tay hơn, dễ dàng hơn trong việc củng cố ngụy quyền, huấn luyện ngụy quân, củng cố chế độ thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, và cũng để Mỹ bảo vệ được phần nào danh dự cường quốc của họ.

Từ mục tiêu đó, Mỹ đã mở chiến dịch Linebacker II nhằm ép bức Việt Nam phải chấp nhận rút các đơn vị quân đội từ miền Bắc phải trở về. Chấp nhận luật chơi quân đội Mỹ rút thì Quân đội Nhân dân Việt Nam từ miền Bắc cũng phải rút. Và miền Nam chỉ còn lại chính phủ cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam, quân Giải phóng, và chính quyền, quân đội Sài Gòn.

Nói cụ thể hơn là họ đánh ván bài chót, cố vớt vát muốn chuyển bại thành thắng hay ít nhất gỡ gạc thế bại. Họ mở chiến dịch oanh tạc miền Bắc và Hà Nội là muốn ép Việt Nam phải thay đổi bản dự thảo tháng 10, chủ yếu là nhượng bộ và chấp nhận điều khoản trước đó do họ đề xướng là QĐNDVN phải rút về Bắc. Nhưng Việt Nam chỉ chấp nhận nguyên tắc 1 nước Việt Nam: Các lực lượng nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam. “Ông là người nước ngoài thì ông đi khỏi nước tôi. Còn đây là nhà tôi, tôi ở lại nước tôi, nhà tôi thì tôi muốn đi đâu thì đi. Tôi không bàn với ông chuyện tôi ở đâu trên đất nước tôi. Cũng như ông không bàn với tôi chuyện ông ở đâu trên đất Mỹ”.

Tuy nhiên, dù đã thua trên bầu trời Hà Nội và không đạt được mục tiêu cao nhất kể trên, thì hiệp định Paris về Việt Nam vẫn có giá trị với người Mỹ, và họ đã ký vào, vì hiệp định này trên thực tế đã bảo đảm cho việc Hoa Kỳ rút quân bình yên ra khỏi Việt Nam, và lúc đó sẽ không có chiến dịch quân sự từ Việt Nam.

Nếu ai đã từng đánh nhau với người khác đều minh bạch rằng trong lúc đánh nhau không dễ nói chạy là chạy, đặc biệt trong trường hợp đang yếu thế hơn thì càng không thể nói chạy là chạy được. Chỉ cần quay đầu, quay lưng là bị đo ván ngay. Muốn chạy thì phải có khoảng cách an toàn nào đó hoặc đạt được thỏa thuận với đối phương.

Các danh tướng thời xưa, trong buổi đầu sơ khai nhất của nghệ thuật chiến tranh, cũng biết đạo lý này. Vị tướng nào đào tẩu thì đều cẩn thận dò trước ngó sau, gài lại phục binh chặn truy kích. Những tướng tài giỏi hơn thì biết dùng kế nghi binh, ngụy tạo số lò bếp v.v. để làm cho địch nghi ngờ không dám đuổi theo hoặc chậm trễ truy kích. Thời Tam quốc bên Trung Quốc, danh tướng Lục Tốn của Đông Ngô đã dùng nghi binh kế khiến cho sau 3 ngày lui quân thì quân Bắc Ngụy mới phát hiện ra doanh trại địch trống rỗng không còn một bóng người.

Trường hợp của quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam cũng vậy, nếu trong lúc hàng chục vạn quân Mỹ đang tụ tập dồn cục lo rút đi mà Việt Nam mở chiến dịch quân sự ngay lúc đó thì sẽ có đổ máu lớn. Trước đó Việt Nam cũng đã chứng tỏ được là họ có khả năng đánh ở bất kỳ nơi nào ở miền Nam Việt Nam, kể cả đầu não Sài Gòn, kể cả tòa đại sứ Mỹ, và đánh rất bất ngờ, khó lường.

Nhiều cựu quân nhân Mỹ ngày nay cho rằng bản chất của hiệp định là một sự nhượng bộ và nhịn nhục của người Mỹ, như một cú đấm vào “American pride” (niềm tự hào Hoa Kỳ) của họ. Họ cho rằng họ phải rút đi mà không đổi lại được gì, lực lượng quân đội có tổ chức lớn từ miền Bắc vẫn ở miền Nam, và quân dân miền Nam cũng không giải tán. Trong khi những “nhượng bộ” của Việt Nam theo hiệp định Paris 1973 thì Hoa Kỳ đều không có khả năng và điều kiện để giám sát, kiểm tra, áp chế, thi hành.

Hai nhượng bộ đáng kể của Việt Nam là việc trao trả tù binh Mỹ-ngụy. Và việc chấp nhận sự tồn tại trong hòa bình của ngụy quyền Sài Gòn như là một trong các thành phần chính trị ở miền Nam Việt Nam, được quyền đứng gần ngang hàng với Chính phủ cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Từ lập trường coi ngụy Sài Gòn như là một đám ô hợp cần giải tán ngay, không chấp nhận sự tồn tại của họ như là một trong những thành phần chính trị, thì đã chuyển thành chấp nhận sự tồn tại của họ như một thành phần chính trị, coi họ gần ngang hàng với chính quyền Tây Ninh và lực lượng thứ ba. Việt Nam cũng đồng ý cho Thiệu tham gia bầu cử trong chính phủ liên hiệp 3 thành phần trong cuộc tổng tuyển cử quy định trong hiệp định Paris, cùng với người của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và thành phần thứ ba.

Đây là một nhượng bộ lớn, bởi vì theo luật pháp Việt Nam thì ngụy Sài Gòn là một tổ chức phản quốc theo giặc. Nếu chiếu theo các nguyên tắc và tiêu chí ngày nay thì có thể xem là một tổ chức khủng bố, mạo xưng bất hợp pháp các “quốc hội”, “nhà nước” lên trên một Nhà nước Việt Nam và Quốc hội khóa 1 đã tồn tại và hoạt động xuyên suốt từ năm 1946, càn quét, khủng bố nhân dân, thảm sát dân thường, toa rập, đồng lõa, tiếp tay cho quân xâm lược Mỹ dùng bom đạn giết dân và tàn phá đất nước, rải bom và chất độc hóa học xuống những khu vực dân sự, hàng trăm vụ thảm sát đã xảy ra trong vùng tạm chiếm ở miền Nam….

Như vậy, vì mục tiêu đại cuộc mà Việt Nam trong thời điểm đó đã đành phải tỏ ra xem những người miền Nam đánh giặc với những kẻ theo giặc là “bằng nhau”, “ngang nhau”, đó là những nhượng bộ rất lớn, cả về nguyên tắc lẫn pháp lý và đạo lý.

Thành phần thứ ba kể trên là một liên minh mà Việt Nam dùng để chống Mỹ và cô lập Thiệu, có tên gọi chính thức là Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam. Liên minh này do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập, chịu sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam, do luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, Tôn Thất Dương Kỵ làm tổng bí thư, hòa thượng Thích Đôn Hậu và kỹ sư Lâm Văn Tết đồng phó chủ tịch.

Hiệp định Paris 1973 đã đem lại sự danh chính ngôn thuận cho các đội quân viễn chinh mệt mỏi của Hoa Kỳ rút khỏi chiến trường. Phần nào giữ được danh dự nước lớn của Hoa Kỳ. Còn đối với Việt Nam thì hiệp định này đã góp phần đạt được mục tiêu đẩy đại quân Mỹ về nước. Sau đó, theo hiệp định, sẽ có một cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam để thành lập một chính phủ mới, một chính phủ tạm thời, một chính phủ 3 thành phần ở miền Nam Việt Nam (chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn và Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nói tóm gọn là chính phủ lâm thời 3 thành phần gồm Mặt Trận – Thiệu – Liên Minh).


Bà Nguyễn Thị Bình, nữ bộ trưởng ngoại giao đầu tiên trong lịch sử chính trị Việt Nam, đại diện cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký hiệp định Paris 1973


Người dân Sóc Trăng mừng hiệp định Paris 1973 được ký kết

Mỹ-Thiệu trước khi ký vào hiệp định Paris 1973, đã chấp nhận yêu cầu của Việt Nam về một cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam để thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần theo hiệp định, từng bước tiến tới thống nhất Việt Nam trong hòa bình (như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sau này đã thực hiện nghiêm chỉnh năm 1976). Rốt cuộc, không có cuộc tổng tuyển cử nào diễn ra được.

Cũng như việc phá hoại cuộc tổng tuyển cử toàn quốc theo hiệp định Genève 1954, Mỹ lại phá hoại cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam theo hiệp định Paris 1973. Sau khi Mỹ đã thành công rút đại quân ra một cách an toàn, họ lập tức phá hoại việc thi hành hiệp định Paris 1973, tiếp tục cuộc chiến và phủ nhận tổ chức bầu cử thành lập chính phủ 3 thành phần.

Trong các thỏa thuận giữa hai phía và các điều khoản trong hiệp định, Mỹ chỉ thực hiện gần nghiêm chỉnh điều khoản rút quân, nhưng vẫn không thật sự nghiêm chỉnh hoàn toàn, vì họ chỉ rút quân chính quy, rút những người mặc áo lính, còn những người không mặc áo lính bao gồm CIA, sĩ quan, “cố vấn”, các nhân viên quân sự khoác áo dân thường hoặc “tùy viên” quân sự, thì vẫn ở lại. Ngoài ra tất cả các điều khác họ đều phớt lờ, phá hoại, hoặc thi hành không nghiêm chỉnh.

Nhà báo, nhà sử học người Mỹ Gabriel Kolko, tác giả cuốn sách Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc Chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) do NXB Pantheon Books New York, ấn hành năm 1985, cho biết trước khi hiệp định Paris được ký kết thì Nixon đã liên tiếp gởi thơ cho Thiệu mà ở đó Mỹ đã bắt Thiệu ký vào hiệp định. Và sau khi hiệp định đã được ký kết thì thì họ cho Thiệu mọi phương tiện để vi phạm hiệp định, bằng việc cam kết tiếp tục trợ cấp đầy đủ về kinh tế và quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu; Mỹ công nhận và gọi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là “chính quyền hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam”; không thừa nhận Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam theo hiệp định Paris 1973.

Sau khi Hoa Kỳ đã thành công rút quân an toàn về nước, tổng thống Richard Nixon liền ra tuyên bố cho biết Mỹ sẽ không ủng hộ cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam và sẽ làm những gì có thể để giữ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không sụp đổ. Nguyễn Văn Thiệu công khai tuyên bố lập trường 4 không: Không liên hiệp; Không thương lượng với đối phương; Không có hoạt động của cộng sản hoặc đối phương trong nước; Không để lọt vào tay đối phương bất cứ lãnh thổ nào, tiền đồn nào và khẳng định “không có hòa bình với cộng sản”, “phải xóa thế da beo”, “bắn bỏ những ai chứa chấp cộng sản”.

Sau chuyến đi Mỹ gặp Nixon thì Thiệu lại càng quá khích hơn, phá hoại hiệp định Paris một cách bài bản và có hệ thống, đặc biệt là bóp nghẹt mọi quyền tự do được quy định trong điều 11: Quyền đi lại làm ăn sinh sống giữa vùng giải phóng và vùng tạm chiếm. Người dân bị hạn chế nhiều hoạt động, bị kiểm soát, các quyền con người bị xâm hại, quyền tự do tôn giáo bị xâm phạm, kỳ thị, nhất là với giới tăng ni Phật tử. Danh từ “sư Việt Cộng” được báo chí Sài Gòn tận dụng để “chụp nón cối” các tăng ni. Họ “noi gương” thời Mỹ-Diệm, thấy đất chùa nào muốn cướp thì vu cho là “Việt Cộng nằm vùng”, “chứa chấp Cộng Sản”, “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng Sản”, gán ghép chụp mũ vu khống. Những người bị tình nghi thân cộng đều bị đặt máy nghe lén, theo dõi, cấm đoán, bắt cóc, bắt bỏ tù, tra khảo, đập chết trong nhà tù, đày ra Côn Đảo – Phú Quốc, tăng cường đàn áp ác liệt.

Riêng ở miền Tây Nam Bộ và một số vùng lân cận, thời kỳ này Mỹ-Thiệu vi phạm lộ liễu hiệp định, lệnh ngừng bắn không được thực hiện, trái lại Thiệu cho xuôi quân bắn giết, đốt phá và lấn chiếm vùng giải phóng, bành trướng mở rộng vùng tạm chiếm. 75 tiểu đoàn ngụy, máy bay, xe tăng, vũ khí hiện đại tập trung tấn công ồ ạt vào Cần Thơ, Vị Thanh, Long Mỹ, tiến tới tấn công U Minh, lấn chiếm toàn bộ miền Tây.

Họ ra sức kìm kẹp cấm đoán nhiều quyền của dân, không cho quần chúng trở về ruộng vườn cũ, không cho đi lại làm ăn ở nhiều nơi – thực hiện chính sách “tát nước bắt cá”, để diệt cộng, dồn dân vào các trại tập trung. Đồng thời tuyên truyền xuyên tạc hiệp định, gây hoài nghi trong quần chúng, bảo rằng Việt Cộng đã thua Mỹ nên phải ký hiệp định Paris 1973, cấm đoán quần chúng không cho tổ chức mừng hòa bình, bắt học thuộc lòng 10 điều phải làm, 10 điều bị cấm.

Nếu như năm 1956 Mỹ-Diệm phá hoại cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam là vì CIA thăm dò dư luận và biết rằng lãnh tụ Hồ Chí Minh sẽ thắng chắc, thì năm 1973 Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử hợp nhất miền Nam (hợp nhất vùng giải phóng và vùng tạm chiếm), thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần để tiến tới thống nhất toàn Việt Nam, là vì chính phủ Mỹ, Thiệu, CIA biết lòng dân ủng hộ Mặt Trận, Thiệu bị chống khắp nơi, kể cả từ những đảng phái chống cộng, thân Mỹ, ghen ghét vì Thiệu được Mỹ ưu ái, theo kiểu những người con rơi, con hoang luôn ghen ghét với người mà họ cho là “con cưng” của bố mẹ.

Thiệu cũng bị chống rất gay gắt từ các thành phần thứ ba, những thành phần trung lập giữa cộng sản và tư bản, không phải là cộng sản, chỉ có ủng hộ thống nhất – độc lập – hòa bình, yêu cầu quân đội nước ngoài rời khỏi Việt Nam, và Thiệu còn bị chống bởi nhiều đồng bào Phật tử, giáo phái, thậm chí các tín đồ Thiên Chúa giáo cũng không ưa Thiệu vì họ trung thành với nhà họ Ngô. Thiệu là một trong những tay đầu sỏ trong “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” do Mỹ giật dây năm xưa, đảo chính và hạ sát anh em nhà Ngô.

Mỹ-Thiệu cũng biết rằng Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam tuy không công khai nhưng thực chất do Việt Cộng lãnh đạo, cho nên nếu để cho bầu cử diễn ra và thành lập chính phủ 3 thành phần thì chẳng khác nào “2 đánh 1”.

Với tình hình Thiệu bị mọi phe phái, đối thủ chính trị ở miền Nam, với đủ mọi màu sắc, xu hướng chính trị, chống đối quyết liệt, thì việc tham gia bầu cử để hy vọng có một chân trong chính phủ 3 thành phần, mà hai thành phần một bên là Mặt Trận, một bên là Liên Minh, thì chẳng khác nào là một “giấc mơ giữa ban ngày”. Với tình hình đó, nếu Mỹ-Thiệu chấp nhận bầu cử thì họ sẽ không còn gì cả. Chính quyền và quân đội dưới tay Thiệu vẫn còn thực lực khá mạnh, thì họ không dại gì đi “tự sát” như vậy.

Người Mỹ và Thiệu đều hiểu rằng nếu bầu cử một cách đàng hoàng, không dàn dựng như những cuộc “bầu cử phiếu xanh phiếu đỏ”, “tranh cử đối lập 21 năm 2 tổng thống” trước đây, có sự giám sát của các tổ chức, đoàn thể trung lập trong và ngoài nước, thì Thiệu sẽ chẳng “xơ múi” được gì. Số phận của Thiệu có lẽ cũng sẽ không khác gì với Bảo Đại, Việt Quốc, Việt Cách trong chính phủ liên hiệp nhiều thành phần của Việt Minh trước đây. Sớm muộn gì rồi tất cả cũng sẽ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Do đó, việc Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử cũng là điều không quá gây ngạc nhiên, là điều nằm trong dự liệu của Việt Nam.

Chữ ký của Hoa Kỳ và chữ ký bất đắc dĩ của ngụy quyền Sài Gòn còn chưa khô mực vào hiệp định có những nội dung sau thì họ đã mau chóng “lật kèo”:

Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như đã quy định trong hiệp định Genève 1954.

Những hành động phá hoại hiệp định nói trên đã không cho thấy điều đó.

Hoa Kỳ phải hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu, “cố vấn” và chuyên viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh, hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

Mỹ tiếp tục can thiệp mạnh mẽ và nắm chính trị, quân sự, kinh tế ở miền Nam. Tiếp tục cung cấp vũ khí và tiền bạc cho Nguyễn Văn Thiệu. Duy trì chế độ thực dân mới. Rút đại quân nhưng để lại hàng vạn sĩ quan “cố vấn” và nhân viên quân sự mặc thường phục, khắp miền Nam vẫn đầy người Mỹ.

Sau năm 1973, lính Mỹ có quay lại Việt Nam trong các đợt rời rạc, đặc biệt là lính Thủy quân Lục chiến. Việc quân chính quy Mỹ rút đi và chấm dứt các chiến dịch quân sự trực tiếp do thực binh Mỹ tiến hành không có nghĩa sau năm 1973 không còn người Mỹ, sĩ quan Mỹ, quân nhân Mỹ nào ở Việt Nam. Mỹ cam kết trong hiệp định rằng sẽ phá đổ các căn cứ quân sự Mỹ, nhưng họ đã bội ước và chuyển giao lại cho quân đội Sài Gòn.

Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do. Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền (chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn), hai quân đội (Quân Giải phóng miền Nam và quân đội Sài Gòn), hai vùng kiểm soát (vùng giải phóng và vùng tạm chiếm) và ba lực lượng chính trị (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn, lực lượng thứ ba).

Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử, và cuộc bầu cử đã không bao giờ diễn ra được. Họ không từ bỏ ý định duy trì chủ nghĩa thực dân mới đối với miền Nam Việt Nam, cố gắng bám víu, sử dụng nơi đây như một căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ và là một thuộc địa kiểu mới. Họ đã tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân trên quy mô lớn. Mỹ đã tăng cường cung cấp quân sự và chu cấp kinh tế cho tay sai, vẫn duy trì bộ máy chỉ huy cuộc chiến, với hàng vạn “cố vấn” và nhân viên quân sự người Mỹ đội lốt dân sự. Họ hy vọng chỉ ba năm sau đó, đến năm 1976, sẽ có thể xây dựng và củng cố được một chế độ thuộc địa kiểu mới đúng nghĩa ở miền Nam và thực hiện chia cắt lâu dài Việt Nam.

Hoa Kỳ trong quá khứ (1956) đã phá hoại tổng tuyển cử theo hiệp định Genève về Đông Dương. Nếu như khi đó Hoa Kỳ ngụy biện rằng họ không ký vào đó nên không chịu ràng buộc pháp lý và không phải tuân thủ thi hành hiệp định đó, thì lần này Mỹ-Thiệu đã có ký vào hiệp định, và ngay sau khi rút quân thành công đã bội ước ngay. Nên có thể nói đây là một sự thất hứa, “lật kèo” nhanh chóng, ngang ngược và lộ liễu hiếm thấy trong lịch sử ngoại giao thế giới.

Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.

Hàng vạn tù binh và dân thường Việt Nam đến ngày 30/4/1975 mới được tự do khi Côn Đảo và Phú Quốc được giải phóng. Trước ngày 30/4 các tù nhân, tù binh phía Việt Nam vẫn đầy ở Côn Đảo, Phú Quốc và nhiều nơi khác, không hề được trao trả theo hiệp định.

oOo

Việc Mỹ-ngụy viện đủ lý do để không chấp hành tổng tuyển cử ở miền Nam để thành lập chính phủ 3 thành phần, cũng như không thi hành các điều khoản khác, và sau đó phá hoại, không tôn trọng hiệp định này, đã làm cho giải pháp hòa bình ở miền Nam Việt Nam và giải pháp thống nhất Việt Nam trong hòa bình vào năm 1973 đã bị vô hiệu hóa và không còn tác dụng gì.

Hiện thực mới này đã buộc những vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam phải chiến đấu tự vệ trước nhiều trận càn mới của ngụy quân, và quân dân miền Nam đã tiến hành phản công, tiến tới mục tiêu dứt điểm chiến tranh bằng vũ lực.

Những cố gắng cuối cùng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam

Hoa Kỳ về cơ bản đã thất bại trong chiến lược chiến tranh Việt Nam hóa, ngụy quân vẫn chưa thể đứng vững trong tác chiến một mình mà không cần sự chỉ huy của “cố vấn” Mỹ và sự yểm trợ của hỏa lực Mỹ, nhất là từ trên không.

Họ thua đau trên vùng trời Hà Nội. Thương vong và thiệt hại của họ đã quá nhiều. Sĩ khí, tinh thần chiến đấu của binh sĩ đã quá thấp, làn sóng phản chiến của nhân dân Mỹ dâng cao chưa từng thấy và có nhiều nguy cơ gây rối ren chính trị xã hội, thậm chí có khả năng trở thành một cuộc nội chiến trong lòng nước Mỹ. Vì những lẽ đó họ đành phải miễn cưỡng rút đại quân ra khỏi Việt Nam.

Người Mỹ sau một thời gian cố gắng “Việt Nam hóa” những tác chiến quân sự, rốt cuộc chỉ cho ra lò một “sản phẩm” dở dang chưa thành, èo uột, dở sống dở chết. Lính kiểng tràn ngập quân ngũ. Họ nhập ngũ vì bị bắt lính hoặc vì muốn lĩnh lương Mỹ cho sinh kế, do đó tinh thần rệu rã không có ý chí chiến đấu.

Theo đó, giai đoạn sau hiệp định Paris 1973 đến năm 1975 chủ yếu là sự bám víu trong tuyệt vọng của Mỹ. Có lẽ miền Nam Việt Nam đối với họ trước đây đúng là “béo bở”, nhưng lúc này thì như miếng gân gà, nhai thì khó, nuốt thì nghẹn, bỏ thì tiếc.

Dù vậy, chính phủ Mỹ vẫn nuôi dưỡng ngụy quyền của họ, tuy nhiên ngân khoản chi phí về sau ít dần do đa số thành viên trong Lưỡng viện Mỹ đã quá chán ngán cuộc chiến. Họ muốn Mỹ rút hẳn, rút hết, rút ra thật sự, nên nhiều người bỏ phiếu chống, không phê chuẩn chi thêm tiền cho chiến trường Việt Nam. Tình hình bi đát đến nỗi nhiều người trong giới cầm quyền Mỹ muốn hoàn toàn chịu thua và rút chân ra hẳn, bỏ rơi tay sai, “bỏ con giữa chợ”.

Do đại quân của Mỹ đã rút về nước nên phong trào phản chiến cũng tạm lắng xuống, tuy nhiên người dân Mỹ và thế giới vẫn còn biểu tình ở nhiều nơi, chống lại những nỗ lực cuối cùng giữ miền Nam Việt Nam của Mỹ, họ muốn những bàn tay cuối cùng đang bám víu hãy buông hẳn “con mồi” này ra. Họ muốn tiền đóng thuế của họ được sử dụng cho nhân dân và xã hội Mỹ, họ không muốn tiền đóng thuế của họ bị chính phủ lãng phí ở một nơi xa xôi cách nước họ nửa vòng địa cầu, và tệ hại hơn, được sử dụng để nuôi quân đội Sài Gòn, một quân đội mà giáo sư F. Murray, giáo sư ngành báo chí tại trường Đại học Nam California (Southern California – USC) gọi là một đội quân nổi tiếng lành nghề “hiếp dâm và ăn cướp” hơn là chiến đấu, trong một bài viết về Chiến tranh Việt Nam của ông trên Thời báo Los Angeles (LA Times) năm 2002.


Bà má Sóc Trăng với những đứa con bộ đội

Giai đoạn 1973-1975 là giai đoạn kết thúc chiến tranh bằng vũ lực, trong đó có 2 sự kiện lớn: Một là trận đánh Thượng Đức ở tỉnh Quảng Nam bắt đầu khoảng tháng 7 năm 1974, và chiến dịch Đường 14 – Phước Long kéo dài từ ngày 13/12/1974 đến 6/1/1975 trong địa bàn tỉnh Phước Long để diệt bớt quân giặc, tạo thêm bàn đạp tiến công xung quanh Sài Gòn, giữ vững vùng giải phóng, bảo vệ tính mạng, tài sản của đồng bào. Hai sự kiện này cùng có một mục tiêu chung: Thăm dò khả năng, mức độ phản ứng của Mỹ, thử xem họ có sử dụng tới thực binh người Mỹ để chống đỡ hay không.

Kết quả là quân đội Việt Nam đã giải phóng tỉnh Phước Long và đường số 14 dài trên 100 km, hơn 1 ngàn lính Sài Gòn đầu hàng, quân Giải phóng phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, tịch thu nhiều quân trang, phương tiện, thuốc men. Chiến thắng Phước Long đã trở thành một tiền đề, cơ sở để tạo ra những chiến công khác trên con đường đi đến ngày toàn thắng.

Chiến dịch này còn cho Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam và các lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam biết là Hoa Kỳ sẽ ít có khả năng đem đại quân ứng chiến.

Sau năm 1973, sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam đã giảm đột biến, tổng số tấn vũ khí và thiết bị quân sự được viện trợ giảm từ 171.166 tấn/năm trong thời kỳ 1969-1972 giảm xuống còn 16.415 tấn/năm trong thời kỳ 1973-1975.

Đó là một trong những điểm bất lợi của Việt Nam sau năm 1973, nhưng Việt Nam còn có những thuận lợi khác: Quân từ miền Bắc giờ đây đã dễ dàng hành quân vào Nam bằng cơ giới trên Đường Trường Sơn cả ngày lẫn đêm, đèn pha sáng trưng mà không sợ bị Mỹ oanh kích.

Trong thời gian này, Đường Trường Sơn cũng đã được mở rộng hơn để bảo đảm cho việc cung cấp quy mô lớn cho chiến trường. Các trang thiết bị đạn dược và lương thực cũng đã đủ số trong các kho, từ kho của đơn vị chiến đấu đến kho hậu cứ và kho tại hậu phương miền Bắc. Xăng dầu đã được bơm thẳng theo tuyến đường ống cung cấp từ miền Bắc vào tận Bù Gia Mập tại miền Đông Nam Bộ và rất gần đến các kho đứng chân chiến đấu. Từ đây là giai đoạn phối hợp ăn ý, hiệp đồng tác chiến của quân dân ba miền cùng đánh giặc, chuyển quân dễ dàng và không còn ngại không quân Hoa Kỳ, lực lượng được xem là thiện chiến nhất thế giới, phá hoại và cản trở.

Một ưu thế đặc biệt nữa chính là tinh thần chiến đấu. Các binh sĩ quân Giải phóng nhận thức được đây chính là giai đoạn chấm dứt chiến tranh giành toàn thắng, nên khí thế lên rất cao và sẵn sàng xung trận. Trong khi đó tinh thần chiến đấu của lính ngụy cực kỳ suy nhược. Sau khi không còn đại quân Mỹ, các sĩ quan và binh lính ngụy đã thấy tương lai mờ mịt trước mắt, tâm trạng bi quan chán nản và tinh thần chiến đấu sa sút nghiêm trọng dẫn đến tình trạng đào ngũ, trốn lính rất nhiều, không kịp bắt lính bổ sung.

Ngày 8/12/1974 đến 8/1/1975, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam họp hội nghị mở rộng và ra nghị quyết về “Kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976”, dự tính hoàn thành giải phóng miền Nam trong 2 năm.

Bộ chính trị đã hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên nỗ lực lớn nhất của quân và dân cả hai miền thực hiện kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị về mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam Việt Nam.”

Tuy nhiên kế hoạch này đã đánh giá quân ngụy cao hơn năng lực thật sự của họ, nên sau này do sự yếu kém của ngụy quân, kế hoạch 2 năm đã trở thành cuộc tấn công và nổi dậy 55 ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thiếu Long

——————————————————————————

Cùng một bài viết:

Kỳ 1: Bản chất một cuộc xâm lược không thể biện minh
Kỳ 2: Con đường gian nan đến ngày toàn thắng
Kỳ 3: 30/4/1975, ngày toàn thắng của dân tộc Việt Nam
Kỳ 4: Tổng kết Chiến tranh Việt Nam

 

https://chientranhvietnam.wordpress.com/2013/05/11/toancanhchientranhvietnam-2/

 

 

About Uy Do

Banking System Analyst, former NTT data Global Marketing Dept Senior Analyst, Banking System Risk Specialist, HR Specialist
This entry was posted in ?, History, Vietnam War. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s