Lược giải về Phật giáo (1)


Theo tác giả bài viết, những lý lẽ của sư trụ trì Thích Minh Thịnh về việc ăn chay, ăn mặn đi ngược lại hoàn toàn với Luật Kinh và Tín điều Phật giáo.

Lời tòa soạn: Xung quanh những phát ngôn của Nhà sư Thích Minh Thịnh, trụ trì chùa Nhạn Tháp (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) về việc tu hành và các đạo lý khác đang gây xôn xao dư luận thời gian qua, chủ yếu là phản đối và bức xúc với những lời lẽ mà nhà sư đưa ra. Tuy nhiên tất cả chỉ là lý lẽ, thiếu cơ sở căn cứ chứng minh.

Để rộng đường dư luận, Báo Người Đưa Tin xin đăng tải bài viết của ôngVũ Ngọc Phương, Chủ Tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân Lực – Nhân Tài Việt Nam.

Phật giáo là một tôn giáo lâu đời, khởi thủy từ một Vị là Tất đạt Đa Cồ Đàm. Đạo Phật là một Học thuyết hướng tới giải thoát và chấm dứt mọi đau khổ của con người. Khi Đạo Phật truyền sang đất Giao chỉ (Việt Nam), Ngài được gọi là Bụt, danh từ có gốc từ chữ Phạn là sa., pi. Buddha. Từ “Phật” có nghĩa là giác ngộ, thức tỉnh.

  Lược giải về Phật giáo (1) - Ảnh 1

Pho tượng đức Phật Thích Ca lớn nhất Việt Nam hiện nay tại Chùa Linh Ứng Bà Nà (thôn An Lợi, xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng).Nguồn: Thế giới Phật giáo.

Sách cổ của Phật giáo và các chứng tích của Khoa học Khảo cổ đã chứng minh, Phật Tổ là một Nhân vật Lịch sử vĩ đại đã sống cách đây hơn 2,600 năm tại phía đông Ấn Độ. Ngay từ buổi đầu, Đức Phật Tổ Thích Ca đã tổ chức được một Giáo Hội với các giới luật chặt chẽ.

Phật giáo chính thống do Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập và truyền dạy, sau khi Phật Tổ nhập Niết bàn, các đệ tử chia nhau đi truyền dậy giáo lý của Phật Tổ mà thành Đạo. Sang thế kỉ thứ 4 Tr.CN, Đạo Phật bắt đầu phân hóa ra nhiều Tông phái khác nhau về giáo pháp. Trải qua nhiều tông phái với giáo lý, sự hành đạo, tu trì cũng có phần khác nhau. Tổng quan có các Tông phái sau đây:

1/Thượng Tọa bộ (Theravada, Sthaviravada), còn được gọi là Phật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo Nam truyền, Tiểu Thừa. Tông phái này hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn . Chữ Theravada nghĩa là “lời dạy của bậc trưởng thượng”. Vì vậy còn gọi là Trưởng Lão bộ.

Sri Lanka (Tích Lan) là nơi bảo tồn được truyền thống của Thượng Tọa bộ mặc dù đạo Phật tại đây là sự kế thừa từ Ấn Độ. Phật giáo Tiểu Thừa phát triển mạnh ở Sri Lanka và Đông Nam Á ở các nước như Thái Lan, Lào, Campuchia, Myama,…

2/ Đại thừa (Mahayana) hay Phật giáo Bắc truyền. Từ thế kỉ thứ 1 Tr.CN, tư tưởng Đại thừa đã xuất hiện và thuật ngữ Mahayana, hay Đại thừa, chỉ thực sự có khi được đề cập trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Tư tưởng Đại thừa có xu hướng rộng rãi và tự do hơn các phép tắc ràng buộc của Thượng Tọa bộ.

Đến thế kỉ thứ 3 sau CN, giáo lý Đại Thừa được xác định qua trước tác của Bồ Tát Long Thọ trong Trung Luận kinh (Trung Quán Luận kinh). Trong Đại Thừa có các Tông phái khác như Trung quán tông, Duy thức tông. Phật giáo Đại Thừa phát triển ở Đông Á và một phần Đông Nam Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Việt Nam, Singapore,…

3/ Mật tông (Tantrayana), còn gọi là Kim cương Thừa (Vajrayana), còn gọi là Phật giáo Tây Tạng. Mật tông thường giữ bí mật các thông tin, xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ 6, thế kỉ thứ 7 sau CN.

Mật tông có rất nhiều pháp môn thực hành được gọi là phương tiện hay phương tiện thiện xảo, trong đó bao gồm Mạn đà la, Chân ngôn, Ấn, Thần thể, Ngũ trí Như Lai (Dhyani-Buddha), Chủng tử, Đại thủ ấn, Kim cương chửKiền trùy (Ghanta).

Kinh sách Mật tông rất đồ sộ và chưa được biết đầy đủ. Trong đó, cần kể đến Đại Nhật kinh, Kim Cương Đỉnh kinh, Tô Tất Địa kinh, Du kỳ kinh,Yếu lược niêm tụng. Phật giáo Mật tông phát triển ở Tây Tạng và Mông Cổ. Theo một cách phân loại khác, Mật Tông được xếp vào Đại Thừa.

4/ Tịnh Độ Tông hay Tịnh Thổ Tông còn gọi là Liên Tông, xuất hiện vào giữa thế kỉ thứ 4 sau CN từ sự truyền bá của nhà sư Huệ Viễn. Thuyết giáo Tịnh Độ đã có trong Phật giáo Ấn Độ nhưng tới khi sang Trung Hoa đã phát triển thành một Tông phái.

Kinh sách là các Kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, A Di Đà, Vãng sinh Tịnh độ. Tu học có 3 nguyên tắc: Tín, NguyệnHành. Đây là một trong các tông phái tương đối dễ tu học nên ở ĐôngNam Á có rất nhiều Phật tử trong vùng theo tông này, nhất là những người lớn tuổi.

5/ Thiền Tông là cách tu tập có từ khi Đức Phật Tổ Thích Ca truyền giảng. Sau này được Đức Bồ Đề Đạt Ma đưa vào Trung Hoa đầu thế kỉ thứ 6 sau CN. Đến thế kỷ thứ 8 thì Thiền Tông đã thực sự phát triển sâu rộng hơn các tông phái khác. Thiền tông được xem là một nhánh của Đại Thừa. Cách tu học được nhấn mạnh là sự tự nỗ lực để phá bỏ các định kiến trước, các kinh nghiệm hay lề lối suy diễn cũ của bản thân để trực tiếp chứng nghiệm chân lý. Thiền Tông còn được chia ra thành nhiều Tông phái, quan trọng nhất làLâm Tế TôngTào Động Tông.

6/ Các Tông phái khác tầm mức nhỏ hơn đáng kể là Luật Tông (Vinaya),Duy Thức Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông hay Hiền Thủ Tông,Thành Thật TôngChân Ngôn Tông.

Ngày nay, Đạo Phật đã khác nhiều so với buổi hình thành đã chia ra rất nhiều tông phái. Ngay ở Nhật Bản, Phật giáo có rất nhiều tông phái khác nhau, được chia thành mười ba tông phái chính.

Từ nửa cuối thế kỉ thứ 8, vua Al-Mahdi (775-785) của triều đại Hồi giáoAbbasad đã tấn công Ấn Độ cướp bóc, phá hủy nhiều kinh sách và kiến trúc Phật giáo trong đó nghiêm trọng nhất là Trung tâm Phật học Valabhi (Valabhī). Sau đó là sự truy diệt Phật giáo tại Ấn Độ, AfghanistanTrung Đông. Cuộc chinh phạt Hồi giáo của Muhammad Ghuri kéo dài đến 1178, ở Ấn Độ.

Vào năm 1197, trung tâm Phật giáo Nālandā bị tàn phá hoàn toàn. Vikramaśīla cũng bị chiếm năm 1203, chấm dứt một thời đại Phật giáo tại Ấn Độ. Sau thế kỷ 14, Phật giáo gần như bị tiệt diệt ở Ấn Độ, nơi phát tích của Đạo Phật. Thời kỳ này kéo dài đến thế kỷ 19 mới xuất hiện sự chấn hưng Đạo Phật ở Ấn độ.

Các Tôn giáo đều có biểu tượng của Đạo pháp. Với Phật giáo có biểu tượng một bánh xe thể hiện giáo lý chính yếu của Phật giáo là Nhân – Quả và Luân hồi với Giáo pháp là Tứ diệu đế, Bát chính đạo,Trung đạo.

Nền tảng của truyền thống Phật giáo là Tam Bảo: Phật Bảo (Buddha),Tăng Bảo (Sangha) – và Pháp Bảo (Dhamma). Để trở thành người Giác Ngộ – Bồ đề, Phật tử phải thụ giới Tam quyNgũ giới.

Luật Kinh Phật giáo quy địnhNgũ giới thuộc về Cương yếu Giới Luật là năm điều răn cấm không được làm của hàng tu sĩ xuất gia và tu sĩ tại gia khi đã xin phát nguyện thụ nhận 5 giới này (Giới: là ngăn cấm những việc xấu của thân, khẩu, ý). Người Phật tử thu lĩnh năm giới này trong buổi lễ quy yhoặc phát nguyện.

Năm giới là Cấm chỉ người tu trì không nhập vào đường ác, tội lỗi để sa xuống Địa ngục. Ngũ giới là 5 bậc tu trì để đưa người tu hành (Tỳ Kheo và Cư sĩ) cùng rèn luyện các Pháp đến Giác ngộ – Bồ đề.

Nguyên văn chữ Phạn như sau:

1. Pànàtipàtà veramanì: Không được sát sinh là không giết, hại từ con người đến các sinh linh động vật máu nóng, máu lạnh cho đến các loài nhỏ bé như côn trùng, sâu bọ, kiến, cây cỏ, không được làm tổn thương đau đớn con người và các sinh linh

2. Adinnàdàna veramanì: Không được trộm cắp, nghĩa là không cho thì không được dùng thủ đoạn lấy tiền của cho đến tình cảm con người.

3. Kàmesu micchàcàrà veramanì: Không được tà dâm là không được dùng thủ đoạn để cướp vợ người khác, không ép buộc người khác phải thỏa mãn tình dục với mình, không hãm hiếp đàn bà, con gái. Người xuất gia tu hànhcấm hẳn quan hệ tình dục.

4. Musà vàdà veramanì: Không được nói dối. Nói dối là nói láo, nói không đúng sự thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có làm cho người nghe bị tai hại. Không nói dối còn cả ba điều khác của miệng là không nói lời hai lưỡi, đòn càn (xóc) hai đầu, làm cho hai người khác ghét nhau, thù nhau.

Không được nói lời thêu dệt, thêm bớt, có ít xít ra nhiều, nói châm chọc, bóng bẩy làm cho người nghe buồn phiền, thù hận. Không được nói lời độc ác, thô tục, nguyền rủạ chửi mắng thậm tệ làm cho người nghe sợ hãi, đau khổ.

5. Suràmeraya majjappamàdatthàna veramanì: Không được uống rượu và các chất say. Từ sự uống rượu say mất lý tính mà có thể gây phạm bốn giới cấm trên là sát sinh, cướp của, nói dối, hiếp dâm.

Sau khi đã thụ giới phải tự rèn luyện để không còn phạm đạo đức (Giới), rèn luyện Thân Tâm bằng các pháp hành gồm 37 phẩm trợ đạo, chăm việc thiện, tránh ngăn việc ác,… để có được cuộc sống bình an, giữ tâm hồn thanh tịnh khi xuất gia (Định), là một cách tu trì để giải thoát mọi đau khổ (Tuệ).

Giáo lý của Đạo Phật nhận ra con người thác sinh nơi Trần thế phải sống trong kiếp khổ đau. Khổ đau là một cảnh giới con người ai cũng cảm nhận được. Khổ đau đều có nguyên nhân từ tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ.

Giáo lý Phật giáo dậy rằng một người đạt Giác ngộ Bồ đề khi người đó có được một cái nhìn vạn vật như chúng đích thật là (Như thật tri kiến sa.yathābhūtadarśana), có tâm thức thoát khỏi phiền não (sa. kleśa) và si mê (sa. moha). Trong các loại phiền não thì Tham Ái (sa. tṛṣṇā) và Vô Minh(sa. avidyā), cũng được gọi là Si (sa. moha), là nặng nhất. Tham (sa. rāga),Sân (sa. dveṣa) và Si được gọi chung là Tam độclà nguyên nhân của Phiền não.

Cách thực hành trong Phật giáo cũng được phân chia theo Tam học (sa.tisraḥ śikṣāḥ), cụ thể là tu học về Giới (tăng thượng giới học, sa.adhiśīlaśikṣā), Định (tăng thượng định học, sa. adhicittaśikṣā) và Huệ(tăng thượng huệ học, sa. adhiprajñāśikṣā).

Trước hết Phật tử phải phát ĐứcTin (tín, sa. śraddhā) vào Tam bảo, giữ giới luật đúng theo địa vị của mình (cư sĩ, sa-di hoặc tỉ-khâu). Tam độc làm che mờ Tâm thức khiến con người không thể sáng suốt để Giác ngộ (Bồ đề).

Để diệt Tam độc trong nhận thức tinh thần con người phải tu trì để có được tri kiến Chân chính (Trung quan) bằng cách thực hành Bát chính đạo là giáo lý căn bản của Ðạo đế trong Tứ đế. Ðây là cách duy nhất để giải thoát khỏi Luân Hồi giải thoát toàn vẹn như lời dạy của Thế Tôn ở Trung Bộ Kinh I. Bát Chánh Đạo là một trong 37 Bồ-đề phần hay 37 giác chi (bodhipākṣika-dharma).

Bát chính đạo gồm có:

1/ Chính kiến (samyag-dṛṣṭi, bo. yang dag pa`i lta ba): Phá vỡ vô minh nghiệp tập ngàn đời ngàn kiếp, cái thấy cái nhìn đúng với chân lý đúng với sự thật về trần gian này. Tự thân vượt qua ngã và pháp, vượt qua không gian và thời gian, được gọi là chính kiến.

2/ Chính tư duy (samyak-saṃkalpa, bo. yang dag pa`i rtog pa): Suy nghĩ sáng rõ, không vướng mắc trong tam giới để tìm cách cứu giúp chúng sinh trong tam giới thoát khỏi Luân hồi.

3/ Chính ngữ (samyag-vāk, bo. yang dag pa`i ngag): Là những lời nói theo chân lý thoát khỏi tam giới để cho người nghe thấu hiểu được chân lí để thoát khỏi Luân hồi.

4/ Chính nghiệp (samyak-karmānta, bo. yang dag pa`i las kyi mtha`) Suy nghĩ cùng lời nói và hành động đúng với chính kiến thể hiện đầy đủ Giáo lý Giác ngộ giải thoát để khai mở trí tuệ cho chúng sinh được gọi là chính nghiệp.

5/ Chính mạng (samyag-ājīva, bo. yang dag pa`i `tsho ba): Là phần Tâm thức con người đã được Giác ngộ nên trường tồn được siêu thoát khỏi Luân Hồi.

6/ Chính tinh tấn (samyag-vyāyāma, bo. yang dag pa`i rtsal ba): Sau khi Tâm thức con người tu trì Giác ngộ trở nên thông tuệ được trường tồn là Tinh Tấn.

7/ Chính niệm (samyak-smṛti, bo. yang dag pa`i dran pa): Con người đạt sự Giác ngộ, Tâm thức đã giải thoát nhận niệm được Chân lý của quy luật Trời Đất thì không còn gì thay đổi được nữa đó là Chính Niệm.

8/ Chính định (samyak-samādhi, bo. yang dag pa`i ting nge `dzin): Sự nhận biết rõ quy luật trường tồn của Vũ trụ để Tâm thức con người đã đạt tới Bồ đề nhận được, theo đó mà trường tồn thì đó là Chính Định.

  Lược giải về Phật giáo (1) - Ảnh 2

Chùa Bạch Liên (xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) có vườn tượng Phật lộ thiên lớn nhất Việt Nam. Nguồn: Thế giới Phật giáo.

Theo từng Tông phái Phật giáo mà sự phân tích, giải nghĩa, định luận về Bát Chính Đạo của Tiểu thừa, Đại thừa có khác nhau. Phật Giáo Nam Tông (Tiểu Thừa, Nguyên Thủy) tuyên rằng người tu trì Phật giáo phải suy xét, thông hiểu rõ chân lý của Bát Chính Đạo. Nếu sự tu trì sai định nghĩa Bát Chánh Đạo thì sẽ không Giác ngộ, chứng đắc Niết Bàn.

Chân Kinh Phật pháp là Tứ Diệu đế là sự lý giải về bản chất của bốn sự Khổ đau trong Luân hồi, tìm ra chính căn nguyên của khổ và cách giải trừ khổ. Khổ Đế là sự đau trên thân xác và tâm thức gồm: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Khổ Tâm là phải sống chung với người mình không ưa, xa lìa người thân yêu, mong muốn mà không đạt được, chấp vào thân Ngũ Uẩn.

Ngũ uẩn (zh. wǔyùn, sa. pañca-skandha, pi. pañca-khandha, bo. phung po lnga), còn gọi là Ngũ ấm, là năm thể (pañca) nhóm (skandha) tượng trưng cho năm yếu tố Thân Tâm của một con người. Ngoài Ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là ” Nhân thân”.

Ngũ uẩn gồm:

1/Sắc (pi. rūpa), chỉ thân và sáu giác quan gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai,mũi, lưỡi, thân và ý, gốc là Tứ đại chủng (pi. mahābhūta) tạo nên từ lửa, nước, gió và đất.

2/Thụ (pi. vedanā) là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.

3/Tưởng (saṃjñā, pi. saññā) là nhận biết các tri giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị…, kể cả nhận biết sự hiện diện của ý thức.

4/Hành (saṃskāra, pi. saṅkhāra), là những hoạt động tâm lí sau khi cóTưởng như là sự chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, thức tỉnh về tinh thần. Hành nguyên nhân tạo nên Nghiệp Thiện hay Nghiệp Ác.

5/Thức (vijñāna, pi. viññāṇa), gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Không có Thức người ta sẽ không phân biệt được màu sắc hay âm thanh, nóng, lạnh. Đặc tính của Ngũ Uẩn là Vô thường, Vô ngã, Khổ. Vô Thường và Khổ là một luận thuyết quan trọng trong giáo lý Phật học.

Giáo lý Phật giáo là để hướng dẫn con người thoát khỏi khổ đau, siêu thoát khỏi vòng Luân Hồi. Vì vậy có hai học thuyết quan trong nhất của Phật học là Luân Hồi và Nhân quả.

Luân Hồi: Con người khi sinh ra trong cuộc đời – Cõi Trần gian, từ khi sinh đến trưởng thành rồi chết là kết thúc một kiếp. Thể xác như cái áo, cởi ra để lại trong mồ rồi sẽ tan thành bụi đất, chỉ có Tâm thức vẫn tồn tại mang theo Nghiệp là sự tốt, xấu, thiện, ác của kiếp trước đi tái sinh vào một kiếp mới của sinh linh ở các cõi như cõi súc sinh, cõi người, cõi a tu la,…

Luân Hồi là một vòng chuyển động vô tận, vì vậy một kiếp rồi chuyển kiếp trong Luân Hồi vẫn phải chịu khổ nạn của các kiếp trước và nhận lấy Kết Quả, sự định ra có từ Nguyên Nhân cuộc sống của kiếp trước. Con người còn trong Luân Hồi không thể hết khổ đau, vì vậy Giáo lý Phật là dậy con người tu trì để Giác Ngộ (Bồ đề) tìm ra căn nguyên dẫn các kiếp vào Luân hồi, từ đó thoát ra khỏi Luân Hồi. Đó là sự giải thoát trong giáo lý của Phật pháp.

Nhân Quả: Giáo lý của Phật giáo mọi sự vật, sự việc đều có Nguyên Nhân và Kết Quả. Như khi ta gieo trồng vậy, gieo trồng cây gì sẽ có Quả của cây đó. Nhân còn được gọi là Duyên hay Nghiệp.

Trong quá trình sống tạo ra nghiệp có nhiều sự khác biệt nên có luận thuyết về sự Thuận Duyên, Nghịch Duyên, một quá trình sống một đời kiếp người tạo ra Nghiệp Thiện hay Nghiệp Ác để sau khi chết đi, Tâm thức rời khỏi thân xác để tiếp tục thác sinh vào một kiếp sống mới sẽ nhận được Kết Quả – Quả của Nghiệp do kiếp trước tạo thành.

Nếu con người biết sửa mình ở kiếp mới thì sự sửa mình hướng Thiện đó sẽ chuyển cho kiếp kế tiếp, còn kiếp đang sống vẫn phải chịu Quả của Nghiệp kiếp trước truyền sang. Vì vậy sự tu trì hay còn gọi là Tu Thân, Tích Đức của kiếp này chỉ giảm nhẹ được Nghiệp báo của kiếp trước còn Đức Thiện làm được của kiếp này là để cho kiếp sau.

Một kiếp sống con người chỉ là một mạch liên tục của Thân Tâm được chuyển tiếp bởi kiếp trước rồi sẽ còn chuyển tiếp vô tận các kiếp sau nếu không tu trì để Giác ngộ thoát khỏi luân hồi. Khi nào con người không tu trì giác ngộ để thoát khỏi luân Hồi thì vẫn phải chịu kiếp nạn trùng trùng của Nhân – Quả.

Muốn chấm dứt khổ đau phải tự xét mình để có sự nhìn nhận rõ căn nguyên của Tam Độc. Đức Phật Tổ dậy con người sự tu trì để tự giải thoát khỏi Luân hồi mới chấm dứt được đau khổ.

Để tu trì, Phật học dậy bốn trạng thái Thiền (tứ thiền, sa. caturdhyāna). Phương pháp thực hành để hỗ trợ bốn cấp thiền định là Tứ niệm xứ (sa.catvāri smṛtyupasthānāni), Tứ tâm vô lượng , tức là trau dồi bốn tâm thứcTừ, Bi, Hỉ, Xả (sa.catvāry apramāṇāni, cũng được gọi là Tứ Phạm trú (sa.brahmavihāra). Tứ vô lượng (Từ bi hỷ xảcatvāryapramāṇāni, pi. catasso appamaññāyo), là “Bốn trạng thái Tâm thức vô lượng”, còn được gọi là Tứ phạm trú (sa.caturbrahmavihāra) nghĩa là bốn cách an trú trong cõi Phạm, hay gọi là Tứ vô Lượng Tâm thường nói rút gọn là Từ Bi Hỷ Xả.

Là thuật ngữ chỉ một phép Thiền định. Khi thực hành, người tu trì phải làm cho bốn tâm thức cao thượng phát sinh. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng về phép thiền định này như sau:”Có bốn Vô Lượng. Hỡi các Tì – Khâu, một người tràn đầy Tâm Từ (bi, hỉ, xả) sẽ phóng tâm đó đi một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, phía trên, phía dưới, xung quanh mình. Người đó phóng tâm đi khắp thế giới, chiếu rọi khắp nơi với Tâm Từ (bi, hỉ, xả), Tâm thức Vô lượng sẽkhông cònSân Hận và Phiền Não”.

Bốn Tâm Vô lượng là:

1/ Từ vô lượng ( maitry-apramāṇa, pi. metta-appamaññā) là Từ Tâm – sự Nhân từ có ở trong Tâm thức không thù hận, yêu Thiện mà ghét Ác, rộng lòng tha thứ.

2/ Bi vô lượng ( karuṇāpramāṇa, pi. karuṇā-appamaññā) là sự thương xót cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của chúng sinh. Là sự cứu giúp chúng sinh thoát được Luân Hồi.

3/ Hỉ vô lượng (muditāpramāṇa, pi. muditā-appamaññā) Tự thân Tâm thức đã Giác ngộ, gột sạch Tam độc, hết mọi Phiền Não để vui sướng khi chứng sự vui sướng của chúng sinh.

4/ Xả vô lượng (upekṣāpramāṇa, pi. upekkhā-appamaññā) Sự Giác Ngộ – Bồ đề không còn chấp nhất mọi sự thuận nghịch trên cõi Thế gian.

Tông phái Đại thừa gọi là Bốn Hạnh Ba La Mật Đa (pāramitā, Lục độ). Đó là Tâm thức của Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh. Thực hành Tứ Vô lượng tái sinh tại cõi Thiên (deva).

Thiền định ở cấp này chia ra: Một là Chỉ (sa. śamatha) là phương pháp lắng đọng Tâm. Thứ hai là Quán (sa. vipaśyanā, vidarśanā) là cách Thiền Quántrên cơ bản của ThiềnChỉ. Như vậy có an định được Chỉ thì mới đạt đến công phu Quán. Phần thứ ba của Tam học là Huệ học, được lập nên từ sự an định của Thiền Quán. Để chế định được quán chiếu trong Thiền địnhphải xuất phát từ Tứ diệu đế, quy luật của Duyên khởi (sa.pratītyasamutpāda) hay Ngũ uẩn.

Phải tu trì hoàn thiện Tam học mới đạt được Tâm thức về Giải thoát (sa.vimuktijñāna), khi người tu trì đã đạt Giải thoát là kết diệt hết mọi Phiền não, các Lậu (vô lậu, sa. anāsrava) người đó đã đắc quả Tứ Thánh A La Hán.

(Còn tiếp)

Vũ Ngọc Phương

Chủ Tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân Lực – Nhân Tài Việt Nam

 

http://www.nguoiduatin.vn/luoc-giai-ve-phat-giao-1-a218698.html

 

 

About Uy Do

Banking System Analyst, former NTT data Global Marketing Dept Senior Analyst, Banking System Risk Specialist, HR Specialist
This entry was posted in ?, Phat giao, Religous Studies. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s